Trang Chính | LLQDVN | Tin Tức | Thời Sự | Tham Luận | Sinh Hoạt | Cộng Đồng | Tài Liệu | Thi Nhạc | Phim Ảnh | Liên Lạc | English

 

                                   

                           HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU HÓA
Nguyễn Bá Cẩn

Nếu cuối thế kỷ 19 hành khách đi thuyền buồm từ Âu Châu qua Á Châu phải lênh đênh mấy tháng liền trên biển cả th́ một thế kỷ sau, di chuyển bằng phi cơ phản lực trên đoạn đường đó chỉ cần không đến nửa ngày. Chuyển vận người và hàng hóa cũng như trao đổi tin tức và giải quyết công việc giữa người và người, giữa quốc gia và quốc gia đă thay đổi toàn diện. Mặt khác, một biến cố chính trị tại một quốc gia không c̣n hoàn toàn có tính cách nội bộ của quốc gia đó nữa. Và một chứng bệnh truyền nhiễm xảy ra ở nước này có thể nội trong ngày được lây truyền sang nhiều nước khác. Do tiến bộ khoa học và kỹ thuật, thế giới không ngừng thu nhỏ lại trên cả hai b́nh diện không gian và thời gian.  

Có rất nhiều vấn đề cần được giải quyết chung cho hơn một quốc gia, hoặc trọn một vùng gồm nhiều quốc gia. Với thời gian, sự tương quan mật thiết và liên hệ chằng chịt giữa các quốc gia với nhau ngày càng phát triển rộng lớn hơn nữa, từ liên quốc đến tầm vóc liên lục địa. Khởi thủy danh từ toàn cầu hóa chỉ được các giới kinh tế tài chánh dùng trong ngôn ngữ của họ. Thật vậy, căn bản của con người là bị thúc đẩy bởi cái lợi. Trước khi có quốc gia, con người cũng đă biết trao đổi hàng hóa để tiêu dùng và kiếm lời. Với thời gian, với sự h́nh thành của các quốc gia song song với tiến bộ kỹ thuật về giao thông, nhu cầu và lợi nhuận đă thúc đẩy con người phiêu lưu t́m đất lạ, thật ra là t́m tài nguyên và thị trường mới để trao đổi và buôn bán.  

 A/ Toàn Cầu hóa và Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới.

Chính cuộc cách mạng kỹ nghệ và phát triển thương mại khắp nơi trên thế giới đă dẫn dắt đến t́nh trạng manh nha hiện tượng toàn cầu hóa được trông thấy hôm nay. Thật vậy, càng ngày người ta càng thấy không những tài nguyên và sản vật, mà luôn cả vốn liếng và kỹ thụât vượt biên giới các nước để được biến chế thành sản phẩm và xuất cảng khắp các nước. Để cho công việc vận chuyển sản phẩm xuyên ngang biên giới các nước được nhanh chóng, với giá thành rẻ, có lợi cho người bán và nhất là có lợi cho giới tiêu thụ, các nước họp bàn mở rộng cửa khẩu, giảm bớt các ngạch thuế quan cùng hủy bỏ bớt những thủ tục gây cản trở và chậm trễ. Thỏa Ước Tổng Quát về Quan Thuế Biểu và Mậu Dịch (TUTQQTBMD / General Agreement on Tariffs and Trades – GATT) được ra đời năm 1947 với 23 nước thành viên, với mục tiêu phục hưng kinh tế các nước bị suy sụp v́ ảnh hưởng tàn phá của thế chiến. Sau đó, Hiệp định được cải tiến nhằm mở rộng tự do mậu dịch, điều ḥa các ngạch thuế, đặt điều kiện áp dụng chế độ bao cấp cùng quy chế tối huệ quốc (Most-Favoured-Nation Status). Hiện đă có trên 110 quốc gia kư tên gia nhập.

Trong một phiên họp tại Uraguay hồi năm 1997, các nước hội viên của TUTQQTBMD (GATT) họp bàn cùng với một số đông quốc gia khác để thiết lập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (TCMDTG) là cơ quan có trách nhiệm chăm nom sự thi hành của TUTQQTBMD, và nhân dịp này bổ túc Thỏa Ước thêm một số điều khoản liên quan đến sự bảo vệ bằng sáng chế và quyền sở hữu trí tuệ, quy chế đầu tư ngọai quốc, cùng bổn phận của các nước thành viên, v.v..  TCMDTG (WTO) có 75 nước sáng lập viên, hai năm sau thâu nhận thêm 52 hội viên, tổng cộng 127. Tính đến cuối năm 2005, tổng số hội viên là 149.  Trong phiên họp ngày 7/11/2006, TCMDTG đă biểu quyết chấp thuận cho VNCS được gia nhập vào tổ chức này. Việt Nam là hội viên thứ 150.  

B/ Toàn Cầu Hóa và các Tổ Chức Lư Tài Quốc Tế.

Trước khi có TCMDTG, hiện tượng Toàn Cầu Hóa đă được cụ thể hóa bằng sự thiết lập một ngân hàng toàn cầu để hỗ trợ các cuộc mậu dịch liên quốc. Đó là Ngân Hàng Điều Giải Quốc Tế (NHĐGQT / Bank for International Settlements / BIS) thành lập bởi Thỏa Ước Hague năm 1930, trụ sở đặt tại Basle (Thụy Sĩ). Sáng kiến thành lập ngân hàng này xuất phát từ các chủ nhân ông của các ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ và các quốc gia có tầm vóc tại Âu Châu (Anh, Bỉ, Pháp, Đức, Ư) và Nhật Bổn. Lư do chính thức được viện dẫn là để điều ḥa hoạt động các Ngân hàng Trung Ương của các nước vừa kể. Tuy nhiên, riêng đối với Hoa Kỳ, Ngân hàng Liên Bang không tham dự. Trái lại 3 ngân hàng J.P. Morgan & Company, First National Bank of New York và First National Bank of Chicago tham gia NHĐGQT/BIS với tư cách thành viên ngang hàng với các ngân hàng trung ương của các nước khác. Khởi thủy, mổi thành viên được mua 16 ngàn cổ phần, để làm vốn cho NHĐGQT/BIS.  Có thể nói Hoa Kỳ đóng một vai tṛ quan trọng và trội nhất trong các quốc gia thành viên, v́ đă chiếm 3 ghế thành viên trên 9 và như vậy có nhiều phiếu hơn các thành viên khác trong Hội Đồng Quản Trị. NHĐGQT/BIS quản trị dự trữ vàng của BIS và kiểm soát dự trữ vàng của các NHTU thành viên (khi c̣n chế độ kim bản vị), buôn và bán vàng, tiếp nhận tiền kư thác của các NHTU, ứng trước hoặc vay mượn ngắn hạn với các NHTU, v.v...  

Nếu NHĐGQT/BIS được thiết lập để tái thiết sau đệ nhất thế chiến, th́ Ngân Hàng Thế Giới (NHTG/World Bank/WB) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (QTTQT/International Monetary Fund/IMF) được thiết lập liền sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt để tái thiết Âu Châu. Về sau, dưới áp lực của các nước nghèo  cũng như của các tổ chức khuynh tă trên thế giới, tầm hoạt động được nới rộng sang các lănh vực giúp đở các nước chậm tiến phát triển để giảm bớt cách biệt giữa các nước giàu và nghèo.

Ngân Hàng Thế Giới (WB) lập năm 1944, trụ sở đặt tại Hoa Thạnh Đốn, hiện có 184 quốc gia hội viên. Mục tiêu hoạt động của NHTG là giúp đở các quốc gia xóa bỏ nghèo đói và nâng cao mức sống người dân. NHTG gồm có 2 cơ quan: Ngân Hàng Tái Thiết Phát Triển Quốc Tế (NHTTPTQT/ International Bank For Reconstruction Development/IBRD) chuyên giúp đở các nước nghèo nhưng đáng tin cậy _ có nghĩa nôm na là con nợ tốt _ c̣n Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế (HHPTQT/International Development Association/IDA) nhằm giúp các nước nghèo nhất, bất luận có hay không khả năng hoàn trả. Cả hai cơ quan trên đây cho vay với lăi xuất nhẹ hoặc viện trợ những chương tŕnh liên quan đến giáo dục, y tế, giao thông, viễn thông, v.v.. . 

NHTG hoạt động với ngân khoản đóng góp bởi các quốc gia hội viên. Các hội viên đóng góp kẻ ít người nhiều. Do đó quyền bỏ phiếu tại Hội Đồng Quản Trị cũng khác nhau v́ căn cứ trên tỷ lệ đóng góp. Hiện Hoa Kỳ chiếm 16.4% số phiếu, với mức đóng góp trung b́nh hàng năm 1 tỷ mỹ kim. Tuy nhiên, v́ những quyết định quan trọng phải được đa số 85% chấp thuận nên Hoa Kỳ có thể phủ quyết mọi quyết định của NHTG. Nói một cách khác, Hoa Kỳ tuy chỉ có 16.4% phiếu nhưng đă giữ ghế Chủ Tịch NHTG từ ngày thành lập đến nay và trên thực tế gần như đă lèo lái NHTG theo ư của ḿnh.

Tuy cùng thai nghén từ Hội Nghị Bretton Woods tại New Hampshire năm 1944 như NHTG, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) chính thức thành lập năm 1945 và thực sự hoạt động năm 1947. Cũng như NHTG, QTTQT đặt trụ sở tại Hoa Thạnh Đốn và gồm có 184 quốc gia hội viên. QTTQT là một định chế then chốt của hệ thống tiền tệ quốc tế, tức là hệ thống hối suất và thanh toán các thương vụ giữa các quốc gia trên thế giới. Vai tṛ của QTTQT là khuyến khích các hội viên áp dụng những chính sách kinh tế tài chánh lành mạnh, ổn định hối suất, nhiên hậu góp phần ổn định tài chánh, phát triển mậu dịch thế giới và giúp cho kinh tế được tăng trưởng bền vững. QTTQT cũng giúp các quốc gia hội viên khi gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cán cân chi phó của họ. QTTQT tương tự như quỹ tương trợ giữa các thành viên v́ một mặt họ đóng góp vào quỹ dự trữ và mặt khác khi cần th́ họ cũng có thể vay mượn. Ngoài ra QTTQT c̣n được xem là hy vọng cuối cùng của những quốc gia găp quá nhiều khó khăn v́ nợ nần chồng chất quá nhiều hoặc v́ không cân bằng được cán cân chi phó. Người ta thường thấy khi gặp các trường hợp này, QTTQT giúp đở ư kiến để cho quốc gia sở quan giải quyết, hoặc cho cải tổ lại khoản nợ, hoặc trong rất ít trường hợp thật đặc biệt, cho xóa luôn khoản nợ.  

Hai tổ chức NHTG/WB và QTTQT/IMF được coi như hai tổ chức anh em, hoạt động song hành dưới quyền lănh đạo của một Hội Đồng Thống Đốc (Board of Governors) duy nhất. Hội Đồng Thống Đốc họp đại hội mỗi năm một lần. Mỗi quốc gia thành viên đều có một hội viên chánh thức và một hội viên dự khuyết ngang nhau, thông thường là Tổng Trưởng Tài Chánh và Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia. Như vậy, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Thế Giới (WB) được coi như cơ quan công quyền, khác với Ngân Hàng Điều Giải Quốc Tế (BIS) là cơ quan hoàn toàn tư nhân.  

Hai năm trước khi chế độ kim bản vị chấm dứt, QTTQT đă tự động thiết lập một đơn vị tiền tệ gọi là Special Drawing Right (SDR), tạm dịch “Phát Quyền Đặc Biệt” (PQĐB) để tiện dùng cho sổ sách kế toán trong nội bộ của tổ chức, tức là liên quan giữa IMF và các quốc gia hội viên và một vài tổ chức quốc tế khác như NHĐGQT. Giá trị của PQĐB cho mổi quốc gia thay đổi theo giá trị đơn vị tiền tệ của quốc gia đó, ví dụ vào ngày 29/12/2005, một SDR bằng 1.429 mỹ kim nhưng đến ngày 31/8/2006 một SDR bằng 1.488 mỹ kim. Khi được cho phép vào IMF, quốc gia hội viên phải đóng tiền gia nhập, tức là do người thọ thuế của các quốc gia đó đài thọ. Phần đóng góp (quota) của mỗi thành viên được IMF ấn định theo một tỷ lệ căn cứ trên tầm vóc kinh tế của thành viên đó. Quyền bỏ phiếu  (Voting Power) được IMF ấn định dựa trên tỷ lệ đóng góp gia nhập của thành viên. Sau đây là bảng liệt kê một vài quốc gia tiêu biểu với tỷ lệ đóng góp, số tiền đóng góp và tỷ lệ quyền bỏ phiếu của từng quốc gia thành viên:

        Quốc gia             Tỷ lệ %       Tiền đóng bằng           Quyền  bỏ phiếu
       thành viên           đóng góp         (triệu) SDR             Số phiếu       Tỷ lệ

--------------------------    -----------------------  ------------------------  ---------------------    ----------                                                                                                                              

    Trung Quốc                  2.98                6,369                    63,942          2.94

    Pháp                             5.03              10,738                  107,635          4.95

    Đức                               6.09              13,008                  130,332          5.99

    Nhật                              6.24              13,312                  133,378          6.13

    Nga Xô                         2.79                 5,945                    59,704          2.74 

    Anh                               5.03               10,738                  107,635         4.95

    Hoa Kỳ                       17.40                37,149                 371,743        17.08

    Mă Lai                          0.70                  1,486                   15,116         0.69       

    Thái Lan                       0.51                  1,081                   11,069          0.51

    Việt Nam                      0.15                     329                     3,541          0.16

    . . . . . . . . . . . .            . . . . .                . . . . .                      . . . . .        . . . . .

---------------------------  --------------  ------------------------  -------------------- -----------

    Tổng cộng                  100%             213,478               2,176,037         100%     

 Bảng liệt kê trên đây cho thấy về quyền bỏ phiếu, tỷ lệ của Hoa Kỳ (17.08%) cao hơn tỷ lệ của 3 cường quốc kinh tế Anh/Pháp/Đức cộng lại (15.89%).  

C/  Toàn cầu hóa kinh tế tài chính hay là Điều kiện trong chính sách cho vay và viện trợ.

Dân gian thường nói “Đồng tiền là huyết mạch”. Tiến sĩ Franz Pick, một chuyên viên trứ danh về tiền tệ đă từng nói “Vận số của tiền tệ một nước lúc nào cũng là và sẽ là vận số của nước đó”. Nh́n vào các tổ chức lư tài quốc tế trên đây, ai cũng nhận thấy vận mệnh của từng quốc gia cũng như của thế giới nói chung nằm trong tay của cái mà Tây Phương gọi là “Bộ Ba” (Trinity) gồm có NHĐGQT/BIS, NHTG/WB và QTTQT/IMF. Thật vậy, thế giới ngày nay cần vận chuyển những số tiền khổng lồ không những cho nhu cầu thương vụ, giữa gần 200 quốc gia với đơn vị tiền tệ khác nhau về trị giá, với những thủ tục ngân hàng vô cùng phức tạp về đổi chác và chuyển ngân, mà c̣n cho nhu cầu quản trị các chương tŕnh viện trợ và cho vay nhằm giúp đỡ hàng trăm quốc gia xóa giảm nghèo đói và phát triển kinh tế.

 “Bộ Ba” ngân hàng trên đây tuy ba nhưng là một. Về nguồn gốc cơ cấu của NHĐGQT/BIS phát sinh từ sáng kiến của 5 nước gồm có Hoa Kỳ cùng 3 nước Âu châu Anh/Pháp/Đức và Nhật Bổn, với ưu thế của Hoa Kỳ chiếm 3/9 phần của tổ chức. Về 2 tổ chức QTTQT/IMF và NHTG/WB th́ do một Hội Đồng Thống Đốc duy nhất lănh đạo, trong đó 5 nước vừa kể nắm gần 40% đa số biểu quyết cộng thêm quyền phủ quyết của Hoa Kỳ trên thực tế v́ đa số các biểu quyết đ̣i hỏi đa số tuyệt đối 85% trong lúc một ḿnh Hoa Kỳ đă chiếm tỷ lệ bỏ phiếu 16.4% cho NHQG/WB và 18.25% cho QTTQT/IMF. Ngoài ra, Hội Đồng Chấp Hành của hai ngân hàng trên đây (WB và IMF) gồm có 24 giám đốc trong đó có 5 giám đốc được Hội Đồng Thống Đốc bổ nhiệm thường trực, và 19 giám đốc do 179 quốc gia c̣n lại (184-5) bầu từng nhóm. Do đó, trên thực tế, v́ nắm gần 40% đa số, nên từ trước đến nay, Chủ Tịch của NHTG/WB là người Hoa Kỳ và Chủ Tịch QTTQT/IMF là người Âu Châu.

Mặc dù “Bộ Ba” ngân hàng này nắm trọn quyền lực tiền tệ trên toàn thế giới, nhưng thẩm quyền và lănh vực hoạt động của mỗi cơ chế cũng được phân chia rỏ rệt và khác nhau như sau. NHĐGQT/BIS chỉ làm việc và liên hệ với các Ngân Hàng Trung Ương của các quốc gia. Các giới lư tài quốc tế thường nói NHĐGQT là Ngân Hàng Trung Ương của các Ngân Hàng Trung Ương của các quốc gia. Trong lúc đó NHTG/WB và QTTQT/IMF trực tiếp với các quốc gia hội viên. NHĐGQT/BIS điều ḥa hoạt động của các Ngân Hàng Trung Ương nhằm mục đích giúp cho việc lưu chuyển tiền bạc được suôn sẻ, dễ dàng và nhanh chóng. Nhất là khi NHTG hoặc QTTQT đă thuận cho một quốc gia vay nhưng chưa tháo khoán kịp thời th́ NHĐGQT ứng trước qua h́nh thức một khoản vay tạm thời (bridge loan) và sẽ được quốc gia sở quan hoàn lại khi quốc gia này nhận được tiền vay từ NHTG hoặc QTTQT. NHTG vừa mượn tiền của các ngân hàng tư vừa nhận tiền đóng góp của các quốc gia hội viên để giúp đở các quốc gia nghèo khó phát triển đất nước của họ. C̣n QTTQT th́ thu tiền của các quốc gia hội viên để giúp đỡ các quốc gia gặp khó khăn về tài chính, hoặc khủng hoảng về tiền tệ cũng như về cán cân chi phó.

Giới chính trị thường nói “Ai chi tiền, người đó lănh đạo”. Do đó có thể nói trong thế giới ngày nay, với hiện tượng toàn cầu hóa về chính trị, kinh tế và tài chánh, quyền lực lănh đạo nằm trong tay của “Bộ Ba’ ngân hàng kể trên do Hoa Kỳ lănh đạo. Chính trị đă không có t́nh nghĩa. Nghiệp vụ ngân hàng lại càng vô t́nh vô nghĩa hơn nữa. Mục tiêu của “Bộ Ba” ngân hàng chóp bu này trên thực tế là cho vay lấy lời, c̣n giúp đở các quốc gia chậm tiến nghèo đói là phụ. Do đó mà họ ấn định những điều kiện, luật lệ và thủ tục rất khắt khe để bảo vệ vốn liếng và thu lợi cho được hữu hiệu và nhanh chóng.  

Các nước nghèo muốn xin vay mượn để phát triển hay để giải quyết các khó khăn tài chánh không thể làm ǵ khác hơn là phải xin gia nhập NHTG và QTTQT.  Khi kinh tế tăng trưởng tốt, nông nghiệp và kỹ nghệ đă sản xuất thừa thăi th́ phải t́m thị trường để xuất cảng. Muốn có thị trường tốt không gặp cản trở v́ thủ tục và hàng rào quan thuế th́ không làm ǵ khác hơn là xin gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới. Muốn gia nhập TCMDTG th́ phải thương thuyết song phương hoặc đa phương với những quốc gia có thị trường tốt mà quốc gia sở quan định giao thương. Riêng đối với Hoa Kỳ là cường quốc kinh tế mạnh nhất, với một măi lực dồi dào nhất, các nước muốn được giao thương phải thương thảo để kư kết Thỏa Ước Thương Mại Song Phương (Bilateral Trade Agreement), sau đó lại phải thương thảo để được hưởng qui chế “tối huệ quốc” (Most-Favoured-Nation Status), và trong rất nhiều trường hợp c̣n phải thương thảo để từ thỏa ước tạm thời (tái xét hàng năm) tiến lên qui chế “mậu dịch b́nh thường và vĩnh viển” (Permanent Normal Trade Relations/PNTR), tóm lại là phải bước qua rất nhiều “cửa ải” gay go.   

Mỗi lần đến một cửa ải th́ có một số điều kiện được đặt ra cho quốc gia hội viên phải thi hành. Ví dụ ngay từ lúc xin gia nhập QTTQT và NHTG th́ quốc gia sở quan đă phải ưng thuận bổ túc hay sửa đổi một số luật lệ hiện hành của ḿnh cho được phù hợp với đường lối và thủ tục của các tổ chức quốc tế này, trong đó thủ tục căn bản nhất là để đảm bảo số nợ sẽ vay của hai ngân hàng này trong tương lai. Có như vậy mới được Hội Đồng Thống Đốc QTTQT kư Thỏa Ước chấp nhận gia nhập trong đó có các điều khoản ấn định số tiền phải đóng để gia nhập IMF, quyền bỏ phiếu (số phiếu) và nhất là những trách vụ mà quốc gia sở quan phải chu toàn. Nói một cách khác, quốc gia hội viên sẽ phải chấp nhận một số điều kiện có phần nào xâm phạm đến chủ quyền quốc gia của ḿnh. Cũng có thể nói một cách khác là quốc gia hội viên sẽ phải áp dụng luật lệ của các ngân hàng cho ḿnh vay mượn. Ví dụ muốn bảo đảm về số nợ th́ các nước, nhất là các nước cộng sản phải áp dụng nguyên tắc trong sáng trong mọi thủ tục quản trị ngân sách kế toán nhằm kiểm soát và theo dơi xem các khoản vay có được chi tiêu đúng với mục tiêu của chương tŕnh phát triển hay không, chớ không được viện dẫn lư do “bí mật quốc gia” để che giấu tham nhũng hay lén lút dùng ngân khoản phát triển để tăng cường quốc pḥng.                               

Ngoài ra, mậu dịch tự do ngày nay giữa các nước theo chế độ kinh tế thị trường đă đi đến mức toàn cầu hóa, liên kết và tác động đa phương để đạt tiện ích và lợi nhuận tối đa. Muốn được vậy, các nước phải được đối xử b́nh đẳng, phải đi đều bước, đồng nhịp với nhau bằng cách tôn trọng luật lệ của tṛ chơi. Luật lệ tṛ chơi căn bản của kinh tế thị trường là quốc gia hội viên phải có một nền tảng cơ sở pháp lư để bảo đảm mọi cam kết, giao dịch, khế ước song phương hoặc đa phương, bảo đảm tự do mậu dịch, tự do cạnh tranh, v.v... Ví dụ khi Việt Nam Cộng Sản (VNCS) muốn gia nhập kinh tế thị trường th́ phải chấm dứt t́nh trạng “luật rừng” và phải san định để ban hành 5, 6 bộ luật như luật thương mại, luật lao động, luật đầu tư, luật bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, v.v...

 D/  Từ Điều kiện trong chính sách cho vay và viện trợ đếnToàn cầu hoá dân chủ.

Như vậy, khởi thủy các điều kiện do “Bộ Ba” Ngân Hàng đặt ra cho các nước có tính cách luật pháp về kinh tế tài chánh. Nhưng lần hồi, các cường quốc như Hoa Kỳ hoặc các tổ chức quốc gia đa phương như Liên Hiệp Âu Châu được trớn qui định thêm các điều kiện chính trị, buộc các nước hội viên muốn được vay và viện trợ để phát triển kinh tế th́ phải song hành tôn trọng nhân quyền và phát triển tự do dân chủ. Sở dĩ có t́nh trạng này là v́ các cường quốc nhận định rằng chỉ có những nước độc tài mới có thể dấn thân vào những chính sách phiêu lưu nguy hiểm cho ḥa b́nh thế giới, và như vậy có thể phá vỡ mọi nổ lực phát triển của họ.   

Nhiều học giả và các nhà đấu tranh (activists) thuộc khuynh hướng quốc gia cực đoan chỉ trích và lên án các cường quốc đă dùng hệ thống ngân hàng tài phiệt của ḿnh để khống chế các nước và thực thi một chính sách tân đế quốc thực dân. Sự thật là các nước nghèo cần vay tiền. Và các nước giàu cần cho vay tiền. Lẻ dĩ nhiên, các nước và tổ chức quốc tế cho vay tiền cần đặt điều kiện để bảo đảm số vốn của họ.

Tuy nhiên, dù đứng trên b́nh diện thuần túy tài chánh, th́ những điều kiện do các tổ chức lư tài quốc tế đặt ra cũng có ảnh hưởng đến một vài chính sách của các nước đi vay tiền, điển h́nh là điều kiện giải tư các xí nghiệp quốc doanh. Đối với các nước của thế giới tự do, xí nghiệp quốc doanh là khắc tinh của cạnh tranh tự do và công bằng giữa các xí nghiệp và các nước. Cần phải dẹp bỏ. Nhưng đối với Cộng Sản Việt Nam chẳng hạn, XNQD là công cụ chính để chính quyền vừa chiếm độc quyền, vừa tham nhũng bằng cách ṿi tiền viện trợ và đầu tư vào ngân sách Đảng và túi riêng của cán bộ lănh đạo cao cấp bọn chúng. Do đó dẹp bỏ XNQD sẽ làm cho bọn chúng không c̣n đặc quyền tham nhũng mua chuộc quân đội và công an để đàn áp các phong trào tranh đấu trong nước và củng cố quyền lực của bọn chúng. Một ví dụ khác về nguyên tắc trong sáng buộc các cơ quan công quyền phải công khai hóa các thủ tục ngân hàng, ngân sách và kế toán, cũng gây khó khăn cho các nước độc tài toàn trị thường hay dấu giếm các hành vi mờ ám, bất lương như đục khoét ngân quỹ hoặc lén lút du di sử dụng ngân quỹ không đúng với chương tŕnh viện trợ hoặc vay tiền.    

Những ví dụ trên đây dù được đặt ra để thực thi nguyên tắc tự do mậu dịch và bảo đảm vốn liếng cùng các chương tŕnh cho vay của các ngân hàng quốc tế cũng có ảnh hưởng song hành tháo gở hệ thống kềm kẹp và làm suy giảm dần quyền lực của các nhà cầm quyền độc tài. Chính quyền các cường quốc nhất là Hoa Kỳ hẵn đă nhận thấy lợi điểm trên đây có thể được khai triển về chiều rộng cũng như chiều sâu để giải thể lần hồi các nước độc tài như độc tài cộng sản rất cần được hệ thống ngân hàng quốc tế yểm trợ để xoá bỏ nghèo đói và phát triển đất nước của họ. Cho nên thế giới tự do do Hoa Kỳ lănh đạo thay đổi sách lược. Nếu trước kia họ chủ trương bao vây kinh tế và lâm thời chấp nhận dùng vơ lực với thế giới cộng sản, th́ bây giờ họ chủ trương sống chung và hợp tác. Hợp tác để có môi trường giúp đở và đặt điều kiện. Chính sách này thường được gọi nôm na là chính sách củ cà rốt và cây gậy.   

Về chiều rộng, nới rộng điều kiện từ thuần túy kinh tế tài ch́nh lan rộng qua lănh vực chính trị. Điển h́nh là các quốc gia và tổ chức nhân quyền quốc tế ra quyết nghị lên án những chính sách đàn áp và bắt giam sái phép, gây áp lực để các nước độc tài trả tự do cho các nạn nhân. Nạn nhân có thể là một tu sĩ, một nhà báo, hay một người “tù lương tâm”, không liên quan ǵ đến lănh vực kinh tế tài chính. Ví dụ hai Quyết nghị 427 của Hạ viện Hoa Kỳ thông qua ngày 19/11/2003 và Quyết nghị của Quốc hội Âu Châu thông qua ngày 20/11/2003 yêu cầu Việt Nam Cộng Sản phải tôn trọng tự do tôn giáo và trả tự do cho các giáo phẩm và tu sĩ đang bị giam cầm tại Việt Nam. Một ví dụ khác là Quốc Hội Âu Châu đă thông qua hai quyết nghị 1096 hồi năm 1996 “Áp Dụng Biện Pháp Tiêu Hủy Di Sản Các Chế Độ Độc Tài Toàn Trị Của Cộng Sản” và 1481 thông qua ngày 25/1/2006 nhấn mạnh “Nhu Cầu Quốc Tế Lên Án Tội Ác Của Các Chế Độ Độc Tài Toàn Trị Của Cộng Sản”.

Về chiều sâu, các quốc gia nhất là Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu bước thêm một bước nữa là ban hành các điều khoản _ thay v́ quyết nghị hay khuyến cáo _  nằm trong đạo luật và hiệp ước song phương được kư kết với các nước cộng sản có hiệu lực cưởng hành. Ví dụ về đạo luật th́ có những điều kiện chính trị trong đạo luật ngân sách (trong đó có khoản viện trợ cho các nước), trong các hiệp ước xét cấp quy chế mậu dịch b́nh thường và vĩnh viễn (Permanent Normal Trade Relations/PNTR) và hiệp ước thương mại (Trade agreement). cùng các điều kiện trong những qui chế và tổ chức toàn cầu như Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới, qui chế tối huệ quốc hoặc các tổ chức địa phương như Hợp Tác Kinh Tế Á Châu-Thái B́nh Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation/APEC), Thỏa Ước Tự Do Mậu Dịch Á Châu (Asian Free Trade Agreement/AFTA), Thỏa Ước Tự Do Mậu Dịch Bắc Mỹ (North Atlantic Free Trade Agreement /NAFTA),...

Ngoài những phương tiện xuất phát từ lập pháp của các nước hoặc hiệp ước song phương và đa phương giữa các nước có hiệu lực cưởng hành, Hoa Kỳ c̣n cho phép cả hành pháp của họ áp dụng những điều kiện ràng buộc các nước cần vay tiền hay nhận viện trợ. Cụ thể quyết định ngày 15/9/2004 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liệt kê Việt Nam Cộng Sản vào các quốc gia loại “Đặc Biệt Quan Tâm” (Countries of Particular Concern / CPC) v́ những vi phạm trầm trọng quyền tự do tôn giáo của người dân. Hậu quả của quyết định này là Chính Phủ Hoa Kỳ phải cắt đứt viện trợ của Hoa Kỳ cho CSVN, trừ ngân khoản có tính cách trợ cấp nhân đạo, và chỉ thị cho đại diện của Hoa Kỳ tại Ngân Hàng Thế Giới biểu quyết chống mọi đề nghị viện trợ cho Việt Nam.

Trên đây chỉ là những thí dụ tiêu biểu của một hệ thống chính sách mà thế giới tự do do Hoa Kỳ lănh đạo giăng ra nhằm quyến rũ các nước độc tài nghèo đói muốn phát triển cho đất nước họ vươn lên th́ phải gia nhập kinh tế thị trường toàn cầu để được viện trợ, cho vay và giúp đở kỹ thuật. Lẻ dĩ nhiên, chính trị và kinh tế không bao giờ cho không. Tài phiệt các cường quốc và tổ chức ngân hàng quốc tế như NHĐGQT/BIS, NHTG/WB và QTTQT/IMF cho vay để lấy lời c̣n chính phủ của họ th́ dùng áp lực và các luật lệ và hiệp ước có hiệu lực cưởng hành để buộc các quốc gia độc tài phải cải thiện dần các lănh vực tôn trọng nhân quyền, tôn trọng các quyền chính trị căn bản và thỏa mản ước vọng dân chủ của người dân. 

Hiện tượng toàn cầu hóa thai nghén trong lănh vực thương mại và tài chánh lan rộng dần sang các lănh vực kinh tế/kỹ thuật và sau cùng là chính trị. Có thể nói, hiện tượng này trở thành một vũ khí chính trị tinh vi của thế giới tự do dùng toàn cầu kinh tế/kỹ thuật để tiến đến dân chủ toàn cầu. Hoa Kỳ là cường quốc vô địch. Nên người ta không ngạc nhiên khi nghe Tổng Thống Bush, trong bài diển văn nhậm chức nhiệm kỳ hai đă dơng dạc tuyên bố sẽ phát triển dân chủ trên thế giới và long trọng hứa với các nước là Hoa Kỳ lúc nào cũng yểm trợ mọi nỗ lực tranh đấu cho tự do dân chủ trên thế giới.    

E/ Lời hứa và việc làm. 

Lời hứa trên đây của TT Bush rất là khích lệ và đă làm cho các dân tộc c̣n là nạn nhân của độc tài áp bức nô nức phấn khởi thêm trong cuộc đấu tranh cho lư tưởng tự do dân chủ của họ, trong đó hẵn có nhân dân Việt Nam trong nước và tỵ nạn tại hải ngoại. Tuy nhiên, cần phải phân tách xem TT Bush có thẩm quyền và khả năng thi hành theo lời hứa của ông hay không, và nếu có th́ ông có sẵn sàng giữ lời hứa đó hay không. 

Trước nhất chuyện dĩ nhiên là khó cho TT Bush có đầy đủ thẩm quyền trong mọi trường hợp v́ Hoa Kỳ là một nước dân chủ, có quốc hội để kiểm soát và cân bằng quyền lực với hành pháp, có tư pháp để ǵn giữ hành pháp không thể hành động ra ngoài luật pháp. Trong số những trở ngại TT Bush gặp phải, trước hết phải kể những trở ngại về phía quốc hội, nhất là tại Thượng Viện có rất nhiều nghị sĩ khuynh tả, cực tả thân cộng và phản động v́ những hành vi công khai ủng hộ cộng sản như nghị sĩ John Kerry. Bằng cớ là trong năm 2001, Dân biểu Chris Smith có đệ nạp dự luật HR 2833 gọi là Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam mà nội dung gồm có các điều khoản chủ trương phát triển tự do và dân chủ cho Việt Nam và các biện pháp chế tài nhằm cắt đứt viện trợ Mỹ cho Việt Nam (ngoại trừ viện trợ nhân đạo) nếu VNCS vi phạm đạo luật này. Dự luật HR 2833 được Hạ Viện thông qua với 410 phiếu thuận và 1 phiếu chống ngày 3/9/2001, cùng lúc với Hiệp Ước Mậu Dịch Song Phương Mỹ Việt, và được chuyển đến Thượng Viện.  

Tuy nhiên, đến ngày 6/10/2001, Thượng viện chỉ thảo lụân để biểu quyết Hiệp Ước Mậu Dịch c̣n Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam th́ không được ghi vào chương tŕnh nghị sự v́ đă bị John Kerry tự ư chôn vùi tại cấp tiểu ban của Thượng Viện. Do đó, một lần nữa, vào ngày 3/4/2001 Dân biểu Chris Smith cùng 28 dân biểu đồng viện đệ nạp dự luật HR 1587 với nội dung tương tự như dự luật 2833. Các tác giả nghĩ rằng nếu để riêng rẽ, dự luật thứ hai này cũng có thể bị nghị sĩ John Kerry dập chết như dự luật trước. Cho nên vài tuần lể sau đó, dự luật 1587 này được các tác giả xáp nhập vào dự luật 1950 gọi là dự luật Viện Trợ Ngoại Quốc (Federal Assistance Act) để được thảo luận và biểu quyết chung tại Hạ viện ngày 16/7/2003 với 382 phiếu thuận và 40 phiếu chống.  Quả nhiên, dự luật này khi được chuyển sang Thượng viện cũng bị nghị sĩ J. Kerry “ngâm” tại tiểu ban Tiền Tệ Mậu Dịch và Kỷ Thuật. Dư lụân xầm x́ rằng để có thể tiếp tục ủng hộ VNCS, nghị sĩ J. Kerry dự định đệ nạp tu chính án dự luật 1950 để chận đứng dự luật này lại.     

Khó khăn thứ hai của Hoa Kỳ xuất phát từ chính Hành Pháp Hoa Kỳ. Thật vậy, những viên chức chính quyền liên bang cũng như tiểu bang nào không có thiện cảm với phong trào đấu tranh dân chủ cho VN thường viện dẫn lư do Hoa Kỳ là nước có bang giao với VNCS để cản trở công cuộc tranh đấu của nhân dân VN và làm lợi cho cộng sản. Điển h́nh là cựu Ngoại Trưởng J. Powell khi c̣n tại chức đă nhiều lần từ chối không xếp VNCS vào nước “Đặc Biệt Quan Tâm”  (CPC) mặc dù nhà cầm quyền VNCS vẫn tiếp tục đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng. Ông ta cũng đă can thiệp mạnh mẽ để cản trở không cho tiểu bang Virginia và thành phố San Francisco vinh danh cờ vàng của người Việt tỵ nạn.   

Khó khăn thứ ba là từ các doanh gia và thương gia Hoa Kỳ có dự án đầu tư và giao thương với VNCS t́m đủ mọi cách để “vận động” hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ ủng hộ VNCS trong các giai đoạn thương thuyết song phương để kư hiệp ước mậu dịch, để được hưởng quy chế mậu dịch b́nh thường và vĩnh viễn (PNTR) hầu có thể gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới. Chính những giới doanh/thương gia trên đây đă tổ chức mời mọc. tiếp rước, thết đải và tô bóng các lănh tụ CSVN sang thăm viếng Hoa Kỳ trong các năm qua.   

Nhưng nhận xét trên đây chỉ là quyền lực trông thấy được. C̣n có những luồng quyền lực vô h́nh trong hậu trường ảnh hưởng mạnh đến chính sách và chương tŕnh của hành pháp, trong đó quan trọng nhất là quyền lực tài phiệt. Quyền lực tài phiệt đó là những nhà đại tư bản và hệ thống ngân hàng to lớn nhất thế giới nắm trong tay số lượng tiền tệ lưu hành khắp hoàn cầu mà đĩnh cao là Ngân Hàng Điều Giải Quốc Tế (BIS). Đă có trường hợp xảy ra tại một vài quốc gia, khi đường lối của Hoa Kỳ và Thế giới tự do không trùng hợp với quyền lợi của đại tài phiệt chóp bu này th́ họ ngầm chuyển ngân giúp đở các nước bị trù dập, mà không sợ bất cứ hậu quả ǵ có thể xảy ra cho họ v́ họ đă có những đặc quyền sau đây:

Trước hết theo Thỏa Ước Hague 1930, Ngân Hàng Điều Giải Quốc Tế (BIS) có quyền giử mật mọi thương vụ, điều hành và sổ sách kế toán của họ. Cũng theo thỏa ước này, các thành viên trong Hội Đồng Quản Trị và các chức sắc điều hành được hưởng đặc quyền bất khả xâm phạm rộng rải hơn quyền bất khả xâm phạm dành cho Tổng Thống cùng các nghị sĩ dân biểu của các nước trên thế giới. Thật vậy, sau đây là trích dẫn một số đặc quyền nói trên qui định bởi Thỏa Ước Hague 1930, và được chính thức xác nhận trong Thỏa Ước Tổng Hành Dinh (Headquarters Agreement) kư ngày 10/2/1987 bởi NHĐGQT/BIS và Chính Phủ Thụy Sĩ: 

         .  đặc miễn ngoại giao cho trụ sở, văn pḥng và nhân viên, kể cả những ǵ họ mang theo (công hàm ngoại giao),       

          .  miễn thuế cho mọi thương vụ kể cả lương bổng và phụ cấp trả cho nhân viên các cấp,

         .  dịch vụ, hồ sơ và tài liệu được miễn mọi sự giám sát của Chính phủ Thụy Sĩ (nơi đặt trụ sở của NHĐGQT (BIS),

         .  miễn mọi sự truy tố và xét xử về những hoạt động cho NHĐGQT,

         .  miễn mọi giới  hạn về nhập cảnh và xuất cảnh, kể cả gia đ́nh họ,

         . được quyền dùng mật mả trong mọi văn kiện chính thức, và dùng túi ngoại giao (diplomatic bag) để chuyên chở, gởi và nhận thư từ cùng tài liệu.              

Như vậy, các viên chức điều khiển Ngân Hàng Điều Giải Quốc Tế và nhân viên của họ muốn điều hành như thế nào tùy ư, được toàn quyền tùy tiện giao dịch, có quyền bảo mật mọi hoạt động, hồ sơ/tài liệu mà không một ai có thể đ̣i xuất tŕnh được. Từng ấy đặc quyền đă cho phép NHĐGQT/BIS và nói chung các đại tài phiệt thao túng tiền tệ lưu hành trên thế giới, kiểm soát công khố phiếu, tài chính cùng hối đoái của các nước, cũng như điều động số lượng tiền tệ khổng lồ trong tay để ảnh hưởng dể dàng kinh tế và sự hưng thịnh của từng quốc gia, mà hậu quả cuối cùng là có thể chi phối chính trị các nước.  

Ví dụ điển h́nh là năm 1998, Ba Tây v́ suy sụp kinh tế nên không thể thanh toán những món nợ khổng lồ vốn lời chồng chất lên đến 30 tỷ mỹ kim. Quỷ Tiền Tệ Thế Giới IMF đă can thiệp bằng cách bỏ ra 30 tỷ để xóa nợ cho Ba Tây, viện lẽ nếu không giúp đở th́ sự sụp đổ của Ba Tây sẽ lan rộng thành khủng hoảng toàn diện cho thế giới.  Nhưng ai ai cũng nhận thấy căn bản của sự can thiệp của IMF cũng đă để lộ diện ư đồ của cơ quan này giúp 3 ngân hàng Citigroup, Fleet Boston và J.P. Morgan Chase thu hồi số nợ Ba Tây c̣n thiếu họ là 25.6 tỷ mỹ kim. Cuối cùng của những lư tưởng cao đẹp được thêu dệt về mục tiêu cao cả “giúp đở các nước xóa nghèo và phát triển” trên thực tế là bảo đảm cho tài phiệt “cho vay ăn lời” bằng tiền của người thọ thuế Hoa Kỳ, v́ Chính Phủ Hoa Kỳ đóng góp nhiều nhất vào ngân quỷ điều hành của IMF.    

Với ví dụ trên đây, người ta thấy rằng khi đế quốc tài phiệt cho vay kèm theo những điều kiện nhằm thực sự cải tiến quốc gia thụ hưởng th́ có lợi cho những cuộc tranh đấu đ̣i tự do dân chủ, nhưng nếu họ cho vay để kiếm lời bất chấp những dự án có quá nhiều may rủi hay không, và trong trường hợp này những món nợ xấu có thể xuất phát từ tệ nạn tham nhũng nhằm nuôi mập các chính quyền độc tài toàn trị, th́ hậu quả rất hại cho những cuộc đấu tranh đ̣i tự do dân chủ.

 F/ Dân chủ hóa Việt Nam.    

Trong hơn một thập niên vừa qua, lần lượt chúng ta đă chứng kiến các nước cựu cộng sản Đông Âu và 14 cựu cộng ḥa của Liên Bang Xô Viết được dân chủ hóa. Các danh từ Cách Mạng Nhung, Cách Mạng Da Cam, Cách Mạng Bông Hồng, v.v.. đă được dùng để gọi những cuộc cách mạng không đổ máu này. Riêng Việt Nam có nhiều dấu hiệu cho thấy chiều hướng sẽ được dân chủ hóa bằng diễn biến ḥa b́nh theo mô thức Đông Âu. Một trong những phương thức mà quốc tế và nhất là Hoa Kỳ đang dùng để dân chủ hoá VN là dùng kinh tế thị trường toàn cầu để tháo gỡ dần những luật lệ, những thủ tục, những tổ chức và cơ cấu lâu nay đă giúp CSVN kiềm giữ đất nước và nhân dân dưới chế độ độc tài toàn trị của đảng và nhà nước.  

Kinh nghiệm cho thấy không có nước nào hy sinh thời giờ tiền bạc của ḿnh để giúp đỡ một nước khác v́ mục tiêu hoàn toàn bất vụ lợi. Ngược lại, hành động của họ luôn luôn nhằm bảo vệ quyền lợi của chính nước họ trước và trên quyền lợi các nước khác. Do đó khi cần, ví dụ khi quyền lợi của nước họ hoàn toàn tương phản với quyền lợi của đồng minh, th́ họ sẳn sàng bỏ rơi hoặc tệ hơn nữa trao đổi hay bán đứng đồng minh. V́ vậy trong trường hợp cần sự giúp đỡ của ngoại ban th́ phải t́m cách hợp tác trên căn bản ǵn giữ và bảo vệ sự độc lập của ḿnh và mặt khác cần liên minh với nhiều quốc gia để tránh trường hợp bị áp lực v́ đă đặt trọn niềm tin vào một đồng minh duy nhất.   

Lâu nay, trong công cuộc đấu tranh nhằm giải thể CSVN, chúng ta đặt hết kỳ vọng và tin tưởng vào Hoa Kỳ là cường quốc có tiếng nói quyết định trong các tổ chức lư tài quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu. Tuy nhiên, chúng ta thường gặp hai trở ngại lớn đối với Hoa Kỳ. Một là từ Quốc hội lưỡng viện, hai là từ Hành pháp Hoa Kỳ, như đă tường thuật ở một đoạn trên.  

Đặc biệt nhất là đối với VNCS, lâu nay Hành Pháp Hoa Kỳ chỉ áp dụng chính sách “giơ cao đánh khẽ”. Lư do là v́ trong chiến lược toàn cầu mới của ḿnh nhằm bao vây Trung Cộng, Hoa Kỳ rất cần đến con chốt VN tại Đông Nam Á để nối ṿng tay lớn với Ấn Độ ở Nam Á và trục Nhật Bổn/Nam Hàn/ Đài Loan ở Bắc Á. Hoa Kỳ đang t́m mọi cách để vuốt ve lôi cuốn VNCS về phía ḿnh. Điển h́nh là trong bức thư phổ biến cho báo chí ngày 6/11/06, Chủ tịch Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ (USCIRF) Felice Gaer sau khi tŕnh bày những vi phạm nghiêm trọng tự do tôn giáo vẫn c̣n tiếp tục tại Việt Nam có đề nghị Bộ Ngoại Giao giữ nguyên tên CSVN trong danh sách CPC, nhưng chiều ngày 13/11/06, tức là một tuần lễ trước khi Tổng Thống Bush đến Hà Nội dự hội nghị APEC, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă công bố rút tên CSVN ra khỏi danh sách các quốc gia có “Quan Tâm Đặc Biệt” về tự do tôn giáo, dọn đường cho Quốc hội Hoa Kỳ thông qua qui chế “PNTR/ Mậu Dịch B́nh Thường và Vĩnh Viễn” để CSVN không c̣n gặp trở ngại nào trong việc xin gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới.  

Trong tư thế lănh đạo thế giới tự do, Hoa Kỳ có rất nhiều nhu cầu trao đổi. Và những ai dựa vào Hoa Kỳ nên theo dơi để có biện pháp thích ứng khi nhận thấy rằng quyền lợi của Hoa Kỳ đă bắt đầu mâu thuẫn với quyền lợi của đất nước họ. Đó là trường hợp của VNCH trước 1975 và hoàn cảnh hiện tại của phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Khi Nga Xô, Trung Cộng và VNCS đàn áp nhân dân của họ và chà đạp nhân quyền trong nước họ th́ Hoa Kỳ không c̣n coi họ là ác quỹ nữa _ v́ Hoa Kỳ đang buôn bán làm ăn với ác quỹ _  c̣n Bắc Hàn, Syria và Iran nay được Hoa Kỳ gọi là trục ác quỹ v́ các nước này đă có can đăm thách đố Hoa Kỳ hoặc/và hăm dọa sự sống c̣n của Do Thái là đồng minh cưng yêu nhất của cường quốc này.        

V́ vậy chúng ta không thể tin tưởng hoàn toàn vào cường quốc vô địch này được. Cũng may là ngoài Hoa Kỳ ra c̣n có Liên Hiệp Âu Châu (LHAC) là một liên quốc đă từng tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ chống bạo quyền CSVN. Mặc dù họ cũng có giao thương lẻ tẻ với VNCS nhưng không phải tất cả 27 thành viên của LHAC đều đầu tư vào Việt Nam. Mặt khác LHAC không có nhu cầu đối địch với Trung Cộng và do đó không ở trong thế phải mơn trớn quá mức VNCS như Hoa Kỳ. Thêm vào đó LHAC ngày nay c̣n bao gồm hàng chục quốc gia Đông Âu và Baltic đă thoát ra khỏi đời sống ngục tù của cộng sản Nga Sô nên có rất nhiều thiện cảm đối với những phong trào tranh đấu nhằm giải thể cộng sản. Bằng chứng hùng hồn nhất là cuối tháng 10 vừa qua, Ba Lan đă cho phép các giới đối lập người Việt ở khắp hải ngoại tổ chức “Hội Nghị Quyền Lao Động tại Việt Nam” tại đại sảnh Sala Kolumnowa của quốc hội Ba Lan. Hội nghị được nhiều nhân vật lập pháp và Hành pháp Ba Lan đến tham dự, khuyến khích cùng với sự yểm trợ mạnh mẽ của Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, bất chấp sự phản đối của nhà cầm quyền CSVN. Hội Nghị này được kết thúc với sự thành lập “Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam” để ủng hộ Công Đoàn Độc Lập Việt Nam vừa được thành lập trong nước nhằm tranh đấu cho quyền lợi của giới lao động. 

Cũng nên nhắc thêm rằng hồi năm 1996 LHAC đă mạnh dạn thông qua nghị quyết 1096 “Áp Dụng Biện Pháp Tiêu Hủy Di Sản Các Chế Độ Độc Tài Toàn Trị Của Cộng Sản” và đến năm 2006 thông qua thêm nghị quyết 1481 nhấn mạnh “Nhu Cầu Quốc Tế Lên Án Tội Ác Của Các Chế Độ Độc Tài Toàn Trị Của Cộng Sản”. Tuy không nêu đích danh VNCS, nhưng hai quyết nghị trên đây của LHAC công khai nói thẳng “những chế độ cộng sản toàn trị hiện hữu tại vài nước trên thế giới”, tức là mặc nhiên bao gồm VNCS. Nghị quyết 1096 khuyến cáo các quốc gia cựu cộng sản nay là thành viên của LHAC phải xúc tiến tiêu hủy các cơ cấu, định chế, đường lối, chính sách độc tài toàn trị chà đạp nhân quyền, đàn áp nhân dân, v.v... Nghị quyết 1481 yêu cầu quốc tế cực lực lên án những chính sách và hành vi đàn áp, khủng bố và giết hại do cộng sản gây ra cho nhân loại trong quá khứ cũng như trong hiện tại, ngoài ra c̣n chủ trương truy tố xét xử những tội phạm thô bạo kê trên.  

Như vậy hướng đi sắp tới của người Việt hải ngoại là cần vận động tích cực hơn và mạnh mẽ hơn Liên Hiệp Âu châu và các nước có thiện cảm khác như Gia Nă Đại, Úc Châu,  v.v... v́ hành lang vận động này rất thuận lợi cho công cuộc tranh đấu của chúng ta để cân bằng và bổ túc lập trường úp mở hàng hai của Hoa Kỳ, như vừa nhận xét ở phần trên, nhất là sau khi đảng Dân Chủ vừa toàn thắng trong mùa bầu cử 2006 và do đó sẽ nắm quyền lănh đạo trọn quốc hội lưỡng viện trong bốn năm sắp tới.                            

Nguyễn Bá Cẩn

Cựu Chủ Tịch Hạ Nghị Viện và Thủ Tướng Chính Phủ VNCH

Giáng Sinh 2006 

                                                                       

Trở về đầu trang