Trang Chính | LLQDVN | Tin Tức | Thời Sự | Tham Luận | Sinh Hoạt | Cộng Đồng | Tài Liệu | Thi Nhạc | Phim Ảnh | Liên Lạc | English


Những người đào mồ chôn cộng sản


Richard V. Allen
Lưu Vũ chuyển ngữ


Richard AllenDCVOnline: Ngày 16/10/1978, là một cột mốc lịch sử làm thay đổi diện mạo thế giới: Hồng y giáo chủ Ba Lan Karol Wojtyla nhậm chức Giáo Hoàng với Thánh hiệu John Paul II.

Trong tháng 10/2006 vừa qua, nhân kỷ niệm 28 năm ngày lịch sử này, Richard V. Allen, cố vấn của cố tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đă tiết lộ những bí mật trong chiến lược chấm dứt chiến tranh lạnh, làm sụp đổ hệ thống cộng sản của Giáo Hoàng John Paul II và Ronald Reagan.

Bài dịch dưới đây do Richard V. Allen viết cho nhật báo Ba Lan Dziennnik ngày 16/10/2006.


* * *


Vào giữa tháng 10/1978, Hồng y giáo chủ Wojtyla trở thành Giáo Hoàng John Paul II... và thế giới sửng sốt. Vị Giáo Hoàng mới vừa có kinh nghiệm của cuộc chiến thế giới II, vừa của chiến tranh lạnh. Chỉ một tháng sau khi Wojtyla được bầu làm Giáo Hoàng, chàng Ronald Reagan thất nghiệp đi sang châu Âu. Tại Berlin, tôi và vợ tôi, vợ chống Peter Hannaford cùng với Ronald Reagan và vợ là Nancy đi xem bức tường Berlin. Reagan, người mà chúng tôi gặp ở đấy nói với chúng tôi: “Chúng ta phải suy nghĩ để phá bỏ cái thổ tả này”.


John Paul 2 campingTrong thời gian cuộc viếng thăm Ba Lan của Giáo Hoàng John Paul II vào tháng 6/1979, đúng vào lúc ấy tôi đang có mặt tại bờ Tây Hoa Kỳ và gặp gỡ thống đốc bang bấy giờ là Reagan tại nhà. Chúng tôi bật TV. Một số kênh truyền h́nh phát sóng diễn biến chuyến thăm Ba Lan của Giáo Hoàng lôi kéo chú ư của Reagan. Những biển người chào đón Giáo Hoàng đă gây nên cho Reagan một cảm xúc vô cùng to lớn. Reagan ngồi im rất lâu và khi tôi liếc nh́n ông th́ thấy mắt ông ngấn lệ. Thật là hiếm hoi khi nh́n thấy nước mắt của người đàn ông này. Tôi nghĩ rằng, đây có lẽ là những giọt nước mắt tự hào, kính nể và ngạc nhiên trước những điều ông nh́n thấy. Một cách tĩnh lược (elliptical) và bóng gió Giáo Hoàng đă chọn biểu tượng cho chuyến hành hương này câu nói: “Đừng sợ hăi!”. Cezary M. Ornatowski của trường đại học tổng hợp San Diego viết: “Sự đổi mới là chủ đề quán xuyến t́m thấy trong lời kêu gọi đầy tính bi kịch của John Paul II”; "Linh hồn Thánh Thượng hăy hiển linh thay đổi diện mạo của đất, của mảnh đất này”. Những lời nói đó đă làm thức tỉnh cả dân tộc đang uể oải và trở thành danh ngôn của cả chuyến thăm này và thậm chí của những cuộc hành hương khác tiếp theo của Giáo Hoàng tại Ba Lan. Reagan xem chuyến đi này là cú đấm vào ngày cội rễ của tiềm lực cộng sản.

Trước khi nhậm chức tổng thống vào tháng 1, Reagan dành ưu tiên trong chính sách của ḿnh cho các vấn đề đối nội và cho rằng, nền tảng của tất cả mọi thứ mà ông muốn đạt tới là lành mạnh hoá nền kinh tế và tài chính quốc gia. Điều này không có nghĩa rằng ông bỏ quên các vấn đề đối ngoại. Hàng ngày tôi mang đến cho tổng thống những thông tin về sự chống đối chính quyền liên tiếp của công đoàn ‘‘Đoàn Kết” Ba Lan và ngày một nh́n thấy rơ hơn những gân bắp quân sự Xô Viết ở vùng Đông Âu. Trong cuộc họp báo đầu tiên của tổng thống sau lễ nhậm chức, ông nói rằng, quân Xô Viết ‘‘cho phép ḿnh cái quyền gây nên mọi tội ác, nói dối và lừa đảo”, với mục đích thực hiện ‘‘cuộc cách mạng trên toàn thế giới và xây dựng một nhà nước cộng sản toàn cầu”.


Hai lực sĩ trên trường đấu

30 tháng 3 năm 1981, mới chỉ 9 tháng nhậm chức tổng thống, Ronald Reagan đă bị ám sát và chỉ một chút nữa là đi với tử thần. Trong khi chờ hồi phục trong bệnh viện, ông có rất nhiều thời gian để suy ngẫm. Ông với tay lấy chiếc bảng màu vàng nhỏ và vạch lên đó một đề án dài cho bức thư riêng gửi Leonid Brezhnev (1) và ông gửi cho tôi để b́nh luận. Đây là một lá thư hết sức đặc biệt. Reagan viết về sự cận kề cuộc gặp gỡ với cái chết và kêu gọi Brezhnev ngồi nói chuyện với ông về nhiều vấn đề khác nhau v́ quyền lợi tốt nhất của công dân Liên Xô, của Mỹ cũng như về lợi ích của hoà b́nh thế giới. Lá thư đă được gửi đến người nhận, mà qua nhiều tuần vẫn không thấy phúc đáp. Nhưng khi Brezhnev trả lời, trong thư chứa đựng đầy những luận điệu Xô Viết rập khuôn vô nghĩa về những đề tài của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và quân xâm lược. Brezhnev cho rằng lá thư của Reagan là thủ đoạn xảo quyệt, c̣n sau này chúng tôi được biết, khi nhận được thư, các nhà lănh đạo Xô Viết lo ngại Reagan một cách khủng khiếp.

Sau khi quay trở lại làm việc dù chưa hoàn toàn b́nh phục sức khoẻ, tổng thống vô cùng kinh ngạc khi vào ngày 13/05 chúng tôi thông báo cho ông tin Mehmet Ali Agca đă bắn Đức Thánh Cha. T́nh cảm quư mến của tổng thống đối với Giáo Hoàng càng được tăng lên và hàng ngày đều hỏi thăm tôi về t́nh trạng sức khoẻ của Ngài – người kế tục sứ mệnh của Thánh Peter.

Tổng thống Ronald Reagan không bao giờ có một chút nghi ngờ rằng, ông phải giành được kết quả trong cuộc chiến tranh lạnh. Nhưng tổng thống không hoạch định những chương tŕnh đầy tham vọng nhằm "kiểm soát t́nh h́nh” như các vị tiền nhiệm mà nghĩ cách làm sao để hướng những người lănh đạo Xô Viết tới sự thay đổi.

Brezhnev bác bỏ đề nghị hợp tác của ông, v́ thế Ronald Reagan nói: “Tôi chẳng hề muốn chạy đua vũ trang, nhưng khi xảy ra điều này th́ chúng tôi sẽ không thể thua”.

Trong khi đó, h́nh như trong mọi cơ hội có thể, Đức Thánh Cha luôn gửi sứ mệnh của ḿnh tới nhân dân, không chỉ Ba Lan, mà c̣n tới các nước khác của Đông Âu. Người Nga càng ngày càng tỏ ra bực bội khi nghĩ rằng họ đang đứng trước một t́nh h́nh tương tự như Tiệp Khắc (2) năm 1968, để cuối cùng phải đổ quân xâm nhập. Ví dụ, vào đúng ngày Reagan bị ám sát do bị mây mù liên tục, trong nhiều tuần lễ chúng tôi đă không chụp được rơ ràng các bức ảnh từ vệ tinh theo dơi việc triển khai quân lực Xô Viết và trong những khoảnh khắc của cuộc khủng hoảng, chúng tôi không biết rằng có hay không có một diễn tiến can thiệp quân sự từ phía biên giới của Ba Lan và của quân đội đóng ngay trên lănh thổ Ba Lan.

Ở điểm này, tôi muốn nhân mạnh thêm rằng, chúng tôi đă có thể xây dựng một chính sách đối với Liên Xô và Ba Lan dựa trên nền tảng mà người tiền nhiệm của tôi trên cương vị cố vấn an ninh quốc gia, giáo sư Zbigniew Brzezinski (3) – trong những cuộc đối thoại thành thật và hữu ích với John Paul II. Tôi luôn luôn đánh giá Brzezinski là một nhà yêu nước nhiệt thành, một nhà tư tưởng kiên định và một con người quả cảm. Giáo Hoàng đă rất tin tưởng ông – và Giáo Hoàng đă không lầm khi đánh giá con người ông.


Hai chiến lược khác nhau

Tôi không cần phải nhắc lại với bạn đọc của nhật báo Dziennik về danh sách dài những quyết định kinh ngạc, dũng cảm và đầy tính lịch sử của Giáo Hoàng John Paul II trong những ngày đầu tiên khi Ngài nhậm chức. Tôi cũng không cần nhắc nhiều đến những ǵ mà Ronald Reagan đă thực hiện nhằm đạt được mục đích của ḿnh. Bởi v́ cả hai đều tiến tới sự giải phóng Đông Âu. Người ta đặt ra câu hỏi, phải chăng đây là hai ư tưởng gặp nhau một cách ngẫu nhiên hay chính họ đă ư thức nó để bổ sung vào các hoạt động của ḿnh, phân tích nó và đan chéo với nhau.

Câu trả lời mang tính phủ định, nhưng chắc chắn có một trọng lực cho sự giải thích. Theo nhiều hiểu biết của tôi, Washington và Vatican chưa một lần nào đưa ra kế hoạch chung để thực hiện một mục đích chính trị nào đó. Thế nhưng chúng tôi biết tại Washington, người ta muốn làm thế nào để Vatican nhận được thông tin hữu hiệu về những dự định của Reagan.

Hồng y giáo chủ Plo Laghi, vào năm 1981 được cử làm nuncio (đại sứ của Giáo Hoàng) nắm vai tṛ chủ chốt nhiều năm tiếp sau. Bằng mọi kênh thông tin khác nhau, Giáo Hoàng nắm vững mọi bước đi của chúng tôi. Khởi điểm, thực hiện điều này là giám đốc CIA William Casey. Với sự cho phép của tổng thống, Casey đă thành công trong việc cải dạng (incognito) ‘‘thâm nhập” Vatican và thường xuyên tóm lược t́nh h́nh thời sự cung cấp cho Giáo Hoàng và đưa cho Giáo Hoàng xem những tấm h́nh chụp từ vệ tinh. Casey chỉ giới hạn ở mức thông tin và trả lời những câu hỏi của Giáo Hoàng. Ví dụ, Casey đưa ra cho John Paul II những tấm h́nh ghi cụ thể nơi đóng quân của quân đội Xô Viết tại Ba Lan và xung quanh Ba Lan, cùng với những bệ phóng tên lửa của Liên Xô tầm trung b́nh SS-20 tại Tiệp Khắc.

Những bản tường tŕnh tới tay Giáo Hoàng c̣n được thực hiện bởi vị tướng đă về hưu Vernon Walter, một con người cực kỳ kín đáo, nói giỏi bảy, tám thứ tiếng và là một người kể chuyện dí dỏm tuyệt vời.

Mục đích của tất cả những công việc ấy là ǵ? Chúng tôi rất mong muốn John Paul II có những thông tin chính xác, có kiểm chứng về tất cả những ǵ đang xảy ra không chỉ nằm trong phạm vi quyền lợi của Hoa Kỳ, mà của cả Vatican. Nhưng đây chỉ là việc thông tin, c̣n quyết định xử lư thông tin ra sao hoàn toàn là việc riêng của Roma.

Một câu hỏi khác tiếp theo là có hay không khi đưa ra những quyết định cơ bản, tổng thống Ronald Reagan lưu ư đến những phản ứng của Vatican? Từ kinh nghiệmn của cá nhân tôi chứng tỏ rằng, người ta đă suy tính tới những phản ứng như vậy, thế nhưng cuối cùng nó không chi phối các quyết định liên quan đến lợi ích của Hoa Kỳ. Mặt khác không nghi ngờ ǵ sự việc hai năm sau, vào năm 1981, Reagan quyết định cho triển khai tên lửa đạn đạo tầm trung b́nh và đầu đạn Cruise tại châu Âu, cho thấy nguyên tắc thông tin tất cả cho Giáo Hoàng là hoàn toàn đúng đắn. Mặc dù Vatican nói chung chống lại chạy đua vũ trang, nhưng hoàn toàn không lên tiếng ǵ trước sự kiện này, cho phép đưa đến một kết luận rằng, những bản tường tŕnh thường xuyên của Casey và Walters đă đóng một vai tṛ của ḿnh tại đây.

Giáo Hoàng cũng đă được biết đến sự ủng hộ bí mật của CIA với Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan. Lech Walesa, cho tận đến hôm nay vẫn có cảm tưởng là không có sự giúp đỡ này, nhưng thực tế là đă có như vậy. Vào lúc bàn giao nhiệm sở trong năm 1980, Brzezinski đă hướng tôi tới một đề tài trong bản tường tŕnh và tôi đă quyết định tăng sự hỗ trợ cho sáng kiến của ông. Thậm chí Walesa không biết về nó và sự giúp đỡ cho Công Đoàn Đoàn Kết không lớn, nhưng là bằng chứng cho một kết quả to lớn của các hoạt động bí mật của CIA.


Nhiều hơn một nhà chính trị

Tôi không mấy hào hứng tham dự vào các vấn đề hợp tác giữa Washington và Vatican, những công việc cụ thể mà họ thực hiện, mà ngày hôm nay được diễn đạt khá hỗn độn. Cả Giáo Hoàng và cả tổng thống đă cố gắng để Công Đoàn Đoàn Kết không bị tiêu diệt vào tháng 12 năm 1981. Cả hai đă gây áp lực lên tướng Jaruzelski (4), mặc dù họ không bao giờ cùng liên kết sức mạnh với nhau. Tôi muốn nhấn mạnh tới điểm này: đây là hai chiến lược không những không xung đột nhau mà c̣n hỗ trợ cho nhau. Mặc dù Vatican muốn có một sự thay đổi quyết liệt trong khối cộng sản phương Đông, nhưng tập trung trước hết vào Ba Lan và cảm thấy có trách nhiệm vô cùng to lớn với số phận của nhân dân Ba Lan. Trong khi đó, tổng thống Ronald Reagan và Hoa Kỳ xem Ba Lan như một phương tiện để dẫn đến việc làm tan vỡ và sụp đổ mối đe doạ của kẻ thù chính, đó là Liên Xô.

Sự bùng nổ của đế chế cộng sản là một thực tế lịch sử. Không có cách ǵ để phủ nhận rằng, chủ nghĩa cộng sản đă bị vứt vào thùng rác lịch sử (vào năm 1848, Marx đă tiên đoán rằng, chủ nghĩa tư bản sẽ có số phận như thế sau cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới). Bất kỳ nơi nào có chủ nghĩa cộng sản, ở nơi đấy sẽ có bóng dáng tấm mặt nạ lố bịch của những kẻ chuyên quyền.


Rất nhiều người quen của tôi trong đảng Cộng Hoà cho đến hôm nay vẫn bảo lưu nhận định rằng chính Ronald Reagan là người chiến thắng trong cuộc chiến tranh lạnh. Họ đă bỏ qua đi nhiều người khác cũng đă góp phần làm nên thắng lợi này, ví dụ tất cả những vị tổng thống Hoa Kỳ sau chiến tranh (thế giới II – LV) và rất nhiều nguời Mỹ khác, nhân dân Ba Lan, Margaret Thatcher, Konrad Adenauer, Dwight Eisenhower và rất nhiều nữa những nhà chính trị và các nhà bác học nổi tiếng khác. Quên đi điều này là một sai lầm nghiêm trọng. Mặt khác phải thừa nhận rằng, Ronald Reagan là tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, khi nhậm chức đă đặt ra mục tiêu là phải lật đổ chế độ cộng sản áp bức đang suy yếu, đầy mâu thuẫn chính trị trong nội bộ và ông đă không ngưng nghỉ tiến tới mục tiêu bằng mọi phương tiện.

Giáo Hoàng John Paul II cũng có một cai nh́n viễn kiến tương tự và cũng chiến đấu không khoan nhượng bằng mọi phương pháp cho phép một người đứng đầu Nhà Thờ và Ngài đă chờ đợi cho đến khi trở nên thực tiễn.

Có một điều mà tất cả chúng ta đều đồng thuận: Cả Giáo Hoàng cũng như tổng thống Ronald Reagan, không một ai tán dương những cống hiến lịch sử của ḿnh.

Cho phép tôi được kết thúc bài viết bằng một giai thoại.

Vào ngày thứ nh́ sau khi Ronald Reagan nhậm chức tổng thống, ngày 21 tháng 1 năm 1981, tôi bước vào pḥng Bầu Dục (Oval Room) với bản tường tŕnh đầu tiên về t́nh h́nh an ninh quốc gia. Tôi trao chiếc cặp cho tổng thống và ngồi đối diện ở phía bên này chiếc bàn làm việc. Khi tổng thống đọc, tôi đưa mắt nh́n quanh. Trên chiếc mặt tủ nằm sau lưng tôi có ảnh của Nancy cùng các con. Trên mặt bàn làm việc không có ǵ khác ngoài chiếc cặp của tôi, chiếc đèn bàn và một cái bảng bằng đồng thau nhỏ với ḍng chữ của Robert Woodruff: “Không có giới hạn nào mà con người không đạt được và có thể tiến xa như thế nào, nếu như chỉ không chú ư đến cái điều phần thưởng sẽ rơi vào một ai đó”.

Tôi cứ nghĩ là Giáo Hoàng cũng có một tấm bảng nhỏ giống thế trên bàn làm việc của ḿnh và nếu không có th́ chắc chắn trong sứ mệnh của ḿnh Ngài cũng đă nghĩ tương tự như vậy.


DCVOnline:

(1): Leonid Breznev, sinh năm 1906, chết năm 1982; từ 1957 là Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Xô Viết Tối Cao Liên Xô; từ 1966 là tổng bí thư đảng CS Liên Xô; thực hiện chính sách giảm bới căng thẳng với phương Tây, nhưng đồng thời tiến thành chính sách đế chế trong các nước thuộc thế giới thứ 3; người chịu trách nhiệm về cuộc xâm chiếm Afghanistan 1979; về nội bộ trong giai đoạn này, Brezhniev cho tăng cường trấn áp các nhà đối lập và nạn tham nhũng lớn khá nghiêm trọng cũng xảy ra vào giai đoạn này.

(2): Tiệp Khắc: (Czecho-Slovakia) là quốc gia tại Đông Âu từ năm 1918 đến 1992; ngày 1/01/1993, quốc gia này tách ra làm 2 nước độc lập là Cộng Hoà Czech và Cộng Hoà Slovakia.

(3): Zbigniew Brzezinski, người Mỹ gốc Ba Lan; sinh năm 1928 tại Warsaw, Poland; tốt nghiệp đại học tổng hợp McGill tại Montreal ngành kinh tế-chính trị; lấy bằng tiến sĩ tại đại học Havard năm 1953 và giảng dạy tại đây đến 1960; từ 1960-1989 giảng dạy tại nhiều trường đại học Hoa Kỳ khác nhau và là thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Chiến Lược và Quốc tế tại Washington; 1977-1981 là cố vấn an ninh của tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Cater.

(4): Wojciech Jaruzelski, sinh năm 1923; đại tướng; người đứng đầu (bí thư thứ nhất) cuối cùng của cộng sản Ba Lan; Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, ông làm tổng thống Ba Lan từ 12/07/1989 đến 22/12/1990, là giai đoạn chuyển tiếp được thoả thuận giữa phe đối lập và bộ máy cộng sản đang chấp chính để tiến tới bầu cử tự do. Hiện ông sống tại Warsaw.

Trở về đầu trang