Trang Chính | LLQDVN | Tin Tức | Thời Sự | Tham Luận | Sinh Hoạt | Cộng Đồng | Tài Liệu | Thi Nhạc | Phim Ảnh | Liên Lạc | English


 

Cần Thẩm Đinh Lại GIÁ TRỊ CỦA ÔNG NGÔ Đ̀NH DIỆM & NỀN ĐỆ NHỨT CỘNG H̉A
Tôn Thất Thiện

Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, số sách báo nói về Ông Ngô Đ́nh Diệm, gia đ́nh Họ Ngô và Chế Độ Cộng Ḥa Việt Nam I nhiều có thể đếm không hết. Các sách báo nầy đua nhau chỉ trích, tố cáo, kết tội Ông Diệm, anh em Ông và những người hăng hái phục vụ Việt Nam Cộng Ḥa I. Nhiều tác giả sách báo đó dùng những lời hung hăng, đưa ra những lời chỉ trích, phỉ bang, tố cáo, buộc tội nặng nề, dưa trên những đồn đăi vu vơ, phóng đại, bịa đặt, không kiểm tra cân nhắc. Trong khi đó, về phía bị cáo, không có người lên tiếng, v́ những bị cáo chính – các Ông Ngộ Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẫn – đă bị giết, và những người có quan hệ với Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa I bị những giới tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào việc lật đổ Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm – Chính quyền “Quân nhân cách mạng” và những phần tử từng chống Ông Diệm – uy hiếp, đe dọa, tố giác, phải im hơi lặng tiếng.

Sau  khi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, t́nh h́nh càng ngày càng rối loạn và suy sụp, cơ cấu dân sự cũng như quân sự của Miền Nam tan ră, tạo điều kiện cho Cộng sản tung hoành. Chỉ hai năm sau, 1965, quân Cộng sản đến Đồng Xoài, sát Sài G̣n, khiến Tổng Thống Johnson phải đưa quân Mỹ ào ạt can thiệp vào Việt Nam Sự can thiệp trực tiếp nầy làm cho Miền Nam hoàn toàn mất chính nghĩa, và bảo đảm sự thắng trận của Cộng sản năm 1975, buộc hang triệu người Miên Nam phải bỏ xứ chạy ra ngoại quốc tị nạn.

Giới tị nạn gồm cả những người đă ủng hộ chế độ Cộng Ḥa I lẫn những người đă tham gia và hoan hộ đảo chánh tháng 11,1963. Một số người đảo chánh không chối cải được trong vụ giúp Cộng sản xâm chiếm Miền Nam đă viết hồi kư để biện minh cho ḿnh, bằng cách tự tân bốc ḿnh, bôi xấu, hạ bệ và đổ lỗi cho người khác, đặc biệt là những đồng chí của họ trong cuộc đảo chánh đưa đến sự bại vong của đất nước. Tất nhiên, trong sự tố cáo, buộc tội nầy họ không quên Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I, mà họ đă một thời hăng hái, khúm núm phục vụ, được nâng đỡ cất nhắc, và hưởng nhiều đặc ân, lợi lộc. 

Những người thuộc Việt Cộng Ḥa I th́ được đặt vào một vị trí khác: vị trí của những người có lư do chính đáng để tố cáo những kẻ đă tổ chức và lật đồ chế độ Ngô đ́nh Diệm, v́ sự thực quá rơ ràng, không thể nào làm ngơ và chối căi được. Nhưng trong những năm đầu họ phải lo làm lại cuộc đời v́ họ phải bỏ xứ chạy ra ngoại quốc với hai bàn tay trắng, nên không lên tiếng được. Phần khác, ngững người biện hộ thực sự cho Ông Ngô Đ́nh Diệm, gia đ́nh Ông và chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I không phải là những ngưởi thực thân cận với Ông và gia đ́nh Ông, trong khi chỉ có tiếng nói của những người như vậy mới có uy lực, v́, là những nhân chứng trực tiếp và thân cận, họ mới biết rơ và hiểu rơ được những ǵ đă xảy ra. 

Tất nhiên, rất ít những người hội đủ những điều kiện trên đây. Sau 1975, cũng có một số sách báo biện hộ cho Ông Diệm, chế độ và gia đ́nh Ông, nhưng những sách báo nầy không có tác dụng thực sự thuyết phục được độc giả, v́ tác giả không phải là nhân chứng trực tiếp và là những người có đủ uy thế để làm cho người đọc tin rằng tiếng nói của họ có thể nói là tiếng nói của anh em Ông Diệm. C̣n một điều kiện nữa, cũng không kém phần quan trọng, là tiếng nói của họ phải được tin là trung thực, không bịa đặt, không thêu dệt, không thổi phồng, không xuyên tạc, v́ t́nh cảm hay ân oán cá nhân. Riêng về những tác phẩm của một số người tự nhân là sử gia th́ thiếu điều kiện căn bản của sử học: sưu khảo thấu đáo, đầy đủ, và tŕnh bày một cách đứng đắn, khách quan, chính xác, vô tư, cân nhắc, cân bằng và công bằng, theo đúng những tiêu chuẩn của khoa học lịch sử.

Trong những năm gần đây mới có một số tác phẩm đáp ứng những điều kiện trên đây. Trong số đó có 3 tác phẩm sau đây đáng được để ư: 

Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ.

Ḍng Họ Ngô Đ́nh, Ước Mơ Chưa Đạt, của ông Nguyễn Văn Minh. 

Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam, Một cuộc cách mạng, của Tiến sĩ Phạm Văn Lưu, và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn.

Những tác phẩm trên đây là những tác phẩm có thể tin được về phương diện chính xác, đứng đắn, v́ các tác giả của các tác phẩm đó hội đủ những điều kiện trên, đặc biệt là họ không có quan hệ gia đ́nh ǵ với Họ Ngô, mà cũng không được hưởng ân huệ ǵ của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I. Những tác phẩm nầy ra đời đúng lúc: những năm gần đây vấn đề xét lại lịch sử Việt Nam được đặt ra và càng ngày càng được hưởng ứng. Giai đoạn 1945-1963, giai đoạn Ngô Đ́nh Diệm cầm quyền, là một giai đoạn rất sôi động nhưng lại chưa khảo xét đầy đủ và đúng đắn, và nay cần được chú ư nhiều hơn. Cho nên những tác phẩm trên đây có tác dụng góp phần quan trọng vào sự soi sáng lịch sử giai đoạn nầy, và rất đáng hoan nghênh.

Những tác phẩm của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ và ông Nguyễn Văn Minh đă được bàn đến ở nơi khác. Bài nầy chỉ bàn vế tác phẩm của Tiến sĩ Phạm Văn Lưu và Tiến sĩ Phạm Ngọc Tấn.

Tác phẩm của hai Tiến si Phạm Văn Lưu và Nguyễn Ngọc Tấn không thuộc về loại hồi kư/hồi ức như các tác phẩm của hai ông Duệ và Minh. Nó là một công tŕnh sử học, đúng nghĩa của nó, nghĩa là thỏa mản những tiêu chuẩn về khoa học của những trường đại học lớn của thế giới: khảo sát tường tận, hoàn toàn khách quan, dữ kiện được cân nhắc kiểm tra kỹ lưởng, tŕnh bày một cách b́nh tĩnh, vô tư, ngôn ngữ đứng đắn. Nó thỏa mản những điều kiện trên v́ nó trích từ những luận án tiến sĩ của hai tác giả. 

Hai tác giả trên đây tốt nghiệp từ Đại Học Monash University ở Melbuorne, Úc, và đă từng là giáo sư của đại học đó. Họ đă chon Việt Nam và giai đoạn Ngô Đ́nh Diệm là đề tài luận án tiến sĩ, và những bài họ viết được trích từ luận án của họ. năm nay họ đều 62 tuổi, nghĩa là trong thời gian 1954-1963 họ c̣n là học sinh nên không có liên hệ ǵ với chế độ Cộng Ḥa I. Họ cũng không có những quan hệ gia đ́nh ǵ với Họ Ngô. Sau khi đến Úc, họ theo học các đại học nói trên, và họ đă bỏ rất nhiều công đi sưu khảo tại rất nhiều nơi có chứa tài liệu dồi dào liên quan đến Việt Nam: Bảo Tàng Viện Chiến Tranh Úc; East-West Center, Đại Học Hawaii; Archives of Indochina, Đại Học Berkely, CA; Thư Viện của Austin University, Texas; Đại Học Harvard; Đại Học Cornel, Ithaca, NY; Thư Viện Eisenhower, Thư Viện Kennedy, Thư Viện Johnson, và Library of Congress, Washington DC. Cuối cùng, sau khi tốt nghiệp, họ đă giảng dạy ở những đại học Úc, và vị thế nầy bắt buộc họ phải phải vô tư để giữ uy tín đứng đắn của ḿnh và … khỏi mất việc. Như thế ta có thể chắc về tính chất khả tín của những ǵ họ viết; chính xác, vô tư, và đứng đắn. 

Quyển Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam 1954-1963: Một Cuộc Cách Mạng (ĐNCHVN I) trang 229, có 5 chương. Hai chương 4 và 5 không quan hệ lắm v́ nó chỉ chứa một số h́nh ảnh về các cuộc viếng thăm các quốc gia bạn, hay đăng lại một số diễn văn của Tổng Thống Diệm. Ba chương c̣n lại là những chương đáng chú ư. Chương 1 và Chương 3, của Tiến sĩ Phạm Văn Lưu soạn, nói về “Những thách thức nghiệt ngă khi về nước chấp chánh” và “Thành quả 9 năm cầm quyền”; Chương 2, do Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn soạn, nói về “Chủ Nghĩa Nhân Vị, Con đường mới, Con đường tiến bộ”.

Như đă nói ở trên, trong 50 năm qua, sách báo Việt Nam rất nhiều, nhưng phần lớn trong loại “khảo cứu” xuất phát từ các giới Tây Phương, đặc biệt là Hoa Kỳ hay xuyên tạc sự thực bôi xấu Việt Nam, và đặc biệt là Ông Diệm. Đó là v́, như David Horrowitz, lănh tụ phát động phong trào phản chiến “sit in” của Đại Học Berkeley, CA, trong thập niên 1960 thú nhận sau khi đă bỏ và chống lại phong trào nầy trong thập niên 1980, những giới đại học và truyền thông Hoa Kỳ đă bị các tổ chức phản chiến và Cộng sản mang danh “cách mạng” xâm nhập, chi phối và áp đặt quan điểm “politically correct” (đúng về khía cạnh chính trị) của họ. Ông Diệm bị công kích bôi xấu đặc biệt v́ Ông chống thực dân cả Pháp lẫn Mỹ đă gắt gao mà chống Cộng sản càng gắt gao hơn nữa. Phần khác, trên những kệ sách của các thư viện vắng bóng những tác phẩm loại “khảo cứu” của người Việt có đủ tầm thuyết phục phản bác lại các tác phẩm của những giới phản chiến và “cách mạng” trên đây. Có nhiều tác giả lại vô t́nh a dua người Tây Phương lặp lại những luận điệu bôi xấu Việt Nam và lănh tụ Việt Nam, nhất là lănh tụ chống Cộng hữu hiệu như Ông Diệm.

V́ lư do trên đây, không ít người Việt phe “quốc gia” thường có mặc cảm xấu hổ hay nghi hoặc về xứ sở, dân tộc, và các lănh đạo của Việt Nam khi nghĩ hay bàn về thời sự. Riêng về Ông Ngô Đ́nh Diệm, th́ họ lại càng chê bai, kết tội hơn nữa, và những ǵ tốt về Ông th́ không nói đến.

Khuyến điểm trên đây cũng dễ hiểu. Muốn xuất bản một tác phẩm, đặc biệt là một luận án đại học cấp tiến sĩ, về lănh vực chính trị có khả năng thuyết phục quyết định v́ nó đưa ra những dữ kiện mới, những lối lập luận mới có tính cách quyết định không phản bác được, góp phần đáng kể vào sự soi sáng vấn đề nghiên cứu, cần phải sưu khảo tường tận, viếng nhiều thư viện khắp nơi trên thế giới để thu thập tài liệu. Đây là một công việc tốn nhiều th́ giờ, nhiều công, nhiều của. Điều nầy phản ảnh rơ ràng trong những chương kể trên của tác phẩm của hai ông Phạm Văn Lưu và Nguyễn Ngọc Tấn.

Chương 1, của Phạm Văn Lưu, nói về thách thức mà Ông Diệm gặp phải trong hai năm 1954-1955 sẽ được bàn đến một cách khá chi tiết, v́ nó chứa đựng nhiều điều mới mà người Việt Nam cần biết. Chương 2 của Nguyễn Ngọc Tấn, nói về thuyết Nhân Vị cũng vậy v́ đây là lần đầu mà thuyết nầy được tŕnh bày một cách tường tận, đầy đủ, và nhất là trung thực khách quan. Chương 3, của Tiến Sĩ Lưu, nói về thành tích 9 năm cai trị của Ông Diệm cũng là một cái ǵ mới. Trong quá khứ, sách báo nói về Ông Diệm và chế độ Ông thường chú tâm vào khía cạnh chính trị - nhưng không đề cập đến những thành quả lớn mà Chính Phủ Ông đạt được trong 9 năm lănh đạo, kiện toàn độc lập – lấy lại chủ quyền quốc gia trong tất cả các lănh vực: chính trị, ngoại giao lẫn quân sự và kinh tế tài chánh – cải thiện đời sống của dân chúng bằng cách phát triễn tất cả các lănh vực hoạt động - kỷ nghệ, nông thôn, ngư nghiệp, chuyên chở, giáo dục … Chương nấy rất phong phú về thống kê, cho độc giả một ư niệm rơ ràng về những thành tích lớn lao mà Việt Nam đă đạt được dưới chế dộ Việt Nam Cộng Ḥa I.

Trong chương 1 TS Lưu đă dùng những từ ngữ “thách thức” và “nghiệt ngả” để nói về những trở ngại mà Ông Diệm gặp phải khi về nước chấp chánh và trong 2 năm đầu để giữ chính quyền. Hai từ ngữ nầy rất đúng. Ông Diệm đă gặp vô vàn trở ngại. Nhưng những trở ngại lớn nhất là chính phủ Pháp ở Paris hoặc Hoa Ky ở Washington, những viên chức Pháp và những tài phiệt Pháp ở Việt Nam gây ra trong việc t́m cách lật đổ Ông, một đằng bằng cách xúi dục những người Việt chống đối Ông dùng đủ mọi cách, kể cả quân sự, để gây bất ổn, một đằng bằng cách thuyế phục lôi kéo đại diện Chính Phủ Hoa Kỳ ở Paris, ở Sài G̣n, và ngay cả Ngoại Trưởng và Tổng Thống Hoa Kỳ ở Washington đừng ủng hộ Ông ấy nữa.

Tuyên truyền Cộng sản và các giới phản chiến “politically correct” Tây Phương đă không ngớt quả quyết  rằng Ông Diệm là người của Mỹ, được Mỹ lựa chọn và đưa lên làm thủ tướng và yểm trợ hết ḿnh. Phần khác, gần đây lại có tác giả quả quyết rằng: Ngô Đ́nh Diệm do chính phủ Pháp đưa lên cầm quyền và được Pháp hổ trợ”.

Cả hai luận cứ nêu trên đều là những quả quyết vu vơ, và đă bị TS Phạm Văn Lưu phản bác với những dữ kiện rất vũng chắc không thể phủ nhận được, v́ rút ra từ các điện văn mật trao đổi giữa những ṭa đại sứ Mỹ ở Paris, Sài G̣n, Bộ Ngoại Giao Mỹ và Ṭa Bạch Ốc, và với chính phủ Pháp. Các điện văn đó được bạch hóa và phổ biến trong những năm gần đây đă cho ta biết được sự thực đích xác về những ǵ đă xảy ra ở Việt Nam trong những năm 1954-1956, thời gian mà Ông Diệm chấp chánh và ổn định t́nh h́nh.

Ông Lưu đă cho ta thấy rằng ngay từ ngày được Cựu Hoàng bổ nhiệm làm Thủ Tướng ngày 16-6-1954, và ngay cả trước đó nữa, cho đến năm 1956 Ông đă bị nhân viên dân sự cũng như quân sự Pháp ở Sài G̣n và chính phủ Pháp, dù là thiên tả như Mendès France – hay thiên hữu - như Edgar Faure - ở Paris nói xấu và t́m mọi cách lật đổ . Và trong cố gắng thực hiện ư đồ nầy, họ đă hết ḿnh thuyết phục các đại diện Mỹ ở Sài G̣n, Paris, Bộ Trưởng Ngoại Giao J.F Dulles, và ngay cả Tổng Thống Eisenhowere chấp nhận giải pháp loại bỏ Ông Diệm, và đă suưt thành công trong sự vận động nầy.

Ngày 13 -6-1954, 3 ngày trước khi Ông Diệm được chính thức bổ nhiệm làm Thủ Tướng, ông Dejean, Phó Cao Ủy Pháp ở Sài G̣n, nói với ông McClintock, đại diện Mỹ tại Sài G̣n, rằng Ông Diệm “không có cơ may để lập một chính phủ hữu hiệu cho Việt Nam”. Ngày 15-6-1954, một tuần trước khi Ông Diệm bước chân xuống Sài G̣n và 3 tuần trước khi Ông Diệm tŕnh diện Chính Phủ của Ông, Tướng Ely, Cao Ủy Pháp ở Sài G̣n cũng nói với ông McClintock rằng Ông Diệm không đủ khả năng lănh đạo. Ngày 20-6-1954 tại Paris, 3 ngày trước khi Ông Diệm đáp máy bay đi Sài G̣n, hơn 2 tuần trước khi Ông Diệm tŕnh diện chính phủ của Ông (7-7-1954), Thủ Tướng Pháp Mendès France nói với Đại Sứ Mỹ Dillon rằng Ông Diệm là một người cuồng tín và nhờ Hoa Kỳ ngăn cản không cho Ông làm hỏng Hội Nghị Genève, Ông Mendès France không đặt vấn đề không cho Ông Diệm là Thủ Tướng v́ bận tâm của ông ta (Mendès ) lúc đó là phải kư cho được Hiệp Định nội trong ngày 20-7, nếu không ông ta phải từ chức, v́ khi nhận chức Thủ Tướng ông ta cam kết với Quốc Hội Pháp như vậy! Trong những cuộc tiếp xúc khác với đại diện Mỹ, lúc Ông Diệm dùng binh đương đầu với thách thức quân sự của B́nh Xuyên, Tướng Ely nói Ông Diệm là người “mắc chứng hoang tưởng tự đại” (mégalomane), hoặc “điên khùng”. Trong cuộc hội nghị với các ngoại trưởng Mỹ, Anh, ở Paris, Thủ Tướng Pháp E.Fraure đă kích Ông Diệm nặng nề, gọi Ông là “điên khùng”.

Trong những buổi họp với đại diện Hoa Kỳ để bàn về Việt Nam, luận đề được đại diện Pháp luôn luôn đưa ra là “gải pháp” Ngô Đ́nh Diệm chỉ là một cuộc thí nghiệm, “thời gian thí nghiệm đă qua”, Ông Ngô Đ́nh Diệm đă tỏ ra “không có khả năng tập hợp các lực lượng chính trị”, không được quân đội yểm trợ, không ổn định được t́nh h́nh, gây hận thù đối với Pháp, cho nên phải thay thế Ông bằng một người hay nhóm người, có khả năng hơn. Người, hay nhóm người “có khả năng hơn” nầy tất nhiên lấy trong những nhân vật mà Pháp chi phối.

Những đại diện Mỹ ở Sài G̣n – các cố vấn McClintock và Kidder, Đại Sứ Heath, Đặc Sứ Collins – cũng ngă xiêu theo quan chức Pháp, nhất là những quan chức nầy có uy tín như Phó Cao Ủy Dejean, và Tướng Ely, và nhiều lần đề nghị với chính phủ Hoa Kỳ nên thay thế Ông Diệm. Ngay cả ngoại trưởng Dulles và Tổng Thống Esenhower cũng chấp nhận nguyên tắc nầy sau khi nghe phúc tŕnh của Đặc sứ Collins về vụ Ông Diệm ra lệnh cho quân đội quốc gia dẹp B́nh Xuyên, và ngày 27-4-1955 đă điện cho ṭa đại sứ Sài G̣n chỉ thị về quyết định nầy. Họ bực bội với Ông Diệm v́ Ông từ chối những giải pháp mà họ cho là có khả năng ổn định t́nh h́nh.

Lư do thật sự của thái độ nầy là sự bực bội của họ trước thái độ cứng rắn, không nhân nhượng của Ông Diệm. Nói cho đúng, quan chức Pháp cũng như quan chức Mỹ ở Sài G̣n hồi đó bực bội với Ông Diệm v́ Ông tỏ ra một người không dễ bảo. Nói trắng ra, Ông Diệm không chịu làm bù nh́n, dù là của Pháp hay của Mỹ, nhất là khi những đề nghị của họ vi phạm độc lập, danh dự, và tương lai của Việt Nam.

Ví dụ như: Sau những xáo động ở Thủ Đô do B́nh Xuyên và Tướng Hinh gây ra trong mùa Thu 1954, Đại sứ Heath đề nghị Ông Diệm lưu Tướng Hinh lại trong quân đội, nhưng Ông Diệm không chấp nhận. Đại sứ bèn quyết định là Ông Diệm phải ra đi, và ông tường tŕnh về Washington như sau: “Chúng ta phải tranh thủ thời gian để chuẩn bị điều mà Mendès France gọi là “một cơ cấu chính quyền khác”… Tất cả mọi người ở ṭa Đại Sứ tin chắc rằng Ông Diệm không thể tổ chức và điều hành một chính quyền vững mạnh”. Đặc sứ Collins đă nhiều lần, đặc biệt là ngày 13-12-1954 và ngày 31-3-1955, điện cho Ṭa Bạch Ốc đề nghị thay Ông Diệm v́ Ông Diệm “quá cứng rắn”. Các đề nghị của ông không được chấp nhận. Nhưng hạ tuần tháng 4-1955, sau vụ chạm súng giữa B́nh Xuyên và quân đội quốc gia, một buổi họp quan trọng được tổ chức tại Ṭa Bạch Ốc để nghe phúc tŕnh, một giải pháp do ông đề nghị được chấp nhận: loại Ông Diệm khỏi chức vụ thủ tướng, đưa ông Trần Văn Đỗ thay thế Ông, và Bác sĩ Phan Huy Quát làm Phó Thủ Tướng. Trong những người chấp thuận có cả Ngoại trưởng Dulles và Tổng Thống Eisenhower. Lập trường nầy được thông báo cho Ṭa Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n ngày 27-4-1955. 

Sự chấp nhận trên đây của Ngoại Trưởng Dulles cũng khá lạ, v́ ông là người ủng hộ giải pháp Diệm mạnh nhất. Nhưng thật ra, ông cũng đă pḥng xa. Trong một văn thư gởi Đặc sứ Collins ngày 20-4-1955, trước khi ông nầy dời Sài G̣n đi Washington, ông nêu ra 2 điều kiện để quyết định sự ở lại hay ra đi của Ông Diệm:

      1/ Ông Diệm có can đảm và quyết tâm để hành động và

      2/ Ông ta có sự trung thành của quân đội không?

Nếu Ông Diệm thất bại một trong hai điều kiện nầy th́ Ông phải ra đi.

Nhưng ngày 28-4-1955, quân B́nh Xuyên lại tấn công quân đội quốc gia. Ngày 29-4-1955, bất chấp sự khuyến cáo của Tướng Ely, Ông Diệm ra lệnh cho quân đội đánh trả, và quân đội quốc gia đă thắng. Chính phủ Mỹ hiểu rằng những dự đoán của Tướng Ely về Ông Diệm không có khả năng địch lại quân B́nh Xuyên là sai lầm, và làm cho Đặc sứ Collins cùng Chính phủ Mỹ quyết định sai lầm. Từ nay họ không c̣n tin vào nhận định của Pháp nữa. Ngày 1-5-1955 nhận lệnh Tổng Thống Eisenhower, Ngoại Trưởng Dulles gởi điện đến Paris và Sài g̣n hủy bỏ điện tín ngày 27-4-1955. Ngày 8-5-1955, tại hội nghị Anh-Mỹ-Pháp ở Paris Ngoại Trưởng Dulles tuyên bố rằng về Việt Nam, từ nay sẽ không c̣n thỏa hiệp chung Mỹ-Pháp nữa.

Ông Diệm thắng.

Cái thắng của Ông Diệm là sự thắng của can đảm, và cương quyết bảo vệ chính nghĩa quốc gia Việt Nam. Đặc biệt hơn nữa, nó là một cái thắng của chính Ông, dù Ông bị Pháp cản trở và không có sự ủng hộ của Hoa Kỳ.

Sự thắng nầy đưa đến những quyết định căn bản mang lại độc lập thật sự cho Việt Nam trong ṿng chỉ 1 năm: về mặt chính trị Việt Nam ra khỏi Liên Hiệp Pháp tự chọn quy chế cho ḿnh – chế độ Cộng Ḥa – thâu hồi chủ quyền về ngoại giao: bang giao giữa Việt Nam và Pháp qua Bộ Ngoại Giao Pháp thay v́ Bộ Các Quốc Gia Liên Kết nữa và Cao Ủy Pháp ở Sài G̣n và Cao Ủy Việt Nam tại Paris thành Ṭa Đại Sứ, chấm dứt lệ thuộc Việt Nam vào Pháp; thâu hồi chủ quyền về quân sự: ngày 26-4-1956 quân đội Pháp rút hết khỏi Việt Nam, quân đội Việt Nam không c̣n lệ thuộc vào Pháp nữa, viện trợ Hoa Kỳ cấp trực tiếp cho Việt Nam; chủ quyền kinh tế tài chính: cuối tháng 12 năm 1955, Việt Nam ra khỏi khu Phật lăng; giáo dục: Việt Nam tự do nhận giáo sự, chuyên viên từ bất cứ nơi nào, và giới sinh viên ra bất cứ nơi ngoại quốc nào. 

Như TS Lưu nhấn mạnh: những chuyển biến trên “mang theo ư nghĩa chính thức chấm dứt 72 năm chế độ Pháp bảo hộ Việt Nam (1884-1956). Người thực hiện được điều nầy cho Việt Nam là Ông Ngô Đ́nh Diệm. Với tác phẩm Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam 1954-1963 TS Lưu đă giúp ta thấy rơ điều nầy. 

Cũng như với TS P.V. Lưu, những sưu khảo của TS Nguyễn Ngọc Tấn đóng góp một phần quan trọng vào việc soi sáng giai đoạn lịch sử 1954-1963, thời gian Ông Diệm cầm quyền. Những sưu khảo nầy nhằm vào chủ thuyết Nhân Vị. Theo Tiến Sĩ Tấn, trong 40 năm qua, “chưa có cuốn sách nào viết về chủ nghĩa Nhân Vị dưới khía cạnh hàn lâm [khoa học] cũng như đánh giá về tầm quan trọng của nó như một chủ thuyết chính trị” dù rằng chủ thuyết nầy là chủ thuyết khai sinh ra nền Cộng Ḥa đầu tiên tại Việt Nam. Đây là “một vấn đề lịch sử c̣n tồn đọng” trong thế kỷ qua. Bài của ông t́m hiểu vấn đề nầy, đặc biệt t́m giải đáp cho những “nghi vấn lịch sử” sau đây:

 1/ chủ nghĩa Nhân Vị là ǵ?  

2/ Quan niệm Nhân Vị về các lư tưởng của cuộc cách mạng quốc gia ra sao và thể hiện qua các đường lối chính sách như thế nào?  

3/Về nguồn gốc triết học Nhân Vị là thuyết ngoại lai hay mang bản chất chính trị văn hóa của Việt Nam? 

Ông Tấn nói: những nghi vấn trên đây sẽ được bàn luận “một cách tỉ mỉ” và “những câu trả lời sẽ đặt nền móng cho công việc thẩm định phẩm chất lănh đạo và những đóng góp lịch sử của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm trong 9 năm cầm quyền …”

Bài khảo luận của TS Tấn “Chủ Nghĩa Nhân Vị, Con Đường Mới, Con Đường của Tiến Bộ” chứa rất nhiều dữ kiện, suy diễn, và phân tích rất tỉ mỉ, buộc độc giả phải đọc kỹ và nghiền ngẫm, không thể kể chi tiết ở đây. Bài nầy chỉ đề cập đến một số khía cạnh cần được độc giả đặc biệt chú tâm.

Về Nhân Vị là ǵ, TS Tấn đă dựa trên những lời của chính Ông Diệm để giải thích: Nhân Vị  là hai học thuyết Nho Giáo. Nhân do chữ Nhân và chữ Nhị hợp thành có nghĩa là ḷng thương người, đạo lư làm người; Vị do chữ Nhân và chữ Lập hợp thành có nghĩa là người có cái vị trí của họ, đứng giữa và ngang hàng với Trời và Đất. Hai chữ nầy hợp lại để diễn tả ư tưởng: vị trí và phẩm giá con người trong cộng đồng nhân loại và vũ trụ. Ông viết:

“Tóm lại, chủ thuyết Nhân Vị là một triết lư nhằm đề cao giá trị con người trong tương quan với vũ trụ, Trời và Đất, với người khác trong xă hội. Lư thuyết Nhân Vị chủ trương rằng: con người có một giá trị tối thượng nên mọi sinh hoạt trên đời nầy đếu phải hướng về việc phục vụ con người. Chủ nghĩa Nhân Vị lấy CON NGƯỜI biết tu thân (vừa tĩnh vừa động) làm nền tảng để giải quyết các mâu thuẩn trong sinh hoạt con người”.

Về nguồn gốc TS Tấn nhận xét rằng suốt 40 năm qua không mấy ai chú ư t́m hiểu Lư Thuyết Nhân Vị v́ cho rằng lư thuyết đó là ngoại lai, cho rằng “Nhân Vị của Ông Diệm-Ông Nhu là của Mounier, là của Công Giáo”. Những lời phê b́nh nầy hoặc

a) mang một chủ đích chính trị nào đó,

b) thiếu hiểu biết về Chủ Nghĩa Nhân Vị. Trong số những người loại (a) có những người như Nguyễn Thái. Trong tác phẩm Is South VietNam Viable?, ông nói rằng Ông Nhu đă say mê thuyết dân chủ xă hội dựa trên ḷng bác ái và giá trị nhân bản mang danh Personnalisme của Emmanuel Mounier, và “mối lien hệ của nó với xă hội mà Ông Nhu cổ vơ chẳng có ǵ là mới mẻ, và cái thuyết Nhân Vị “Personnalisme” cũng chẳng có ǵ xa lạ v́ trong một trường phái triết học Pháp trong đó có Emmanuel Mounier và Jacques Maritain đă hết ḿnh cổ vơ cho nó …” Trong số những người loại (b) th́ có thể kể ông Nguyễn Gia Kiểng. Gần đây, trong một bài phê phán Ông Ngô Đ́nh Diệm ông viết:

 “Nếu dựa trên những ǵ Ông Nhu đă viết [sic!] về Chủ Nghĩa Nhân Vị th́ có thể nói là chính Ông đă hiểu lơ mơ [sic!] Có lẽ [sic!] Ông đă du nhập chủ nghĩa Nhân Vị vào Việt Nam v́ lư do là lúc đó nó được coi là giải pháp Thiên Chúa Giáo cho ḥa b́nh Công Giáo của thế giới. Nó có tham vọng là một vũ khi tư tưởng chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Trên thực tế, nó là một bước lùi lớn, gần như một sự đầu hang, bởi v́ nó phủ nhận cá nhân [sic!], cốt lơi của dân chủ”

TS Lưu đă bác bỏ dễ dàng những nhận định sai lầm nặng nề và những phê phán hời hợt trên đây. Ông đă trích dẫn những tuyên bố, phát biểu của các Ông Nhu Diệm, và những khảo luận của những nhà học giả Việt Nam có uy tín để chứng minh rằng “Nhân Vị là một lư thuyết chính trị mang một bản sắc dân tộc rơ rệt”, và “với biện chứng mạch lạc rơ rệt của Trie^'t Gia Kim Định, GS Lê Xuân Hồng, và học giả Đinh Văn Khang, Chủ Nghĩa Nhân Vị, Tâm Linh Đông Phương của Ông Ngô Đ́nh Diệm và Ông Ngô Đ́nh Nhu bắt nguồn từ nền tảng văn hóa của Việt Nam, không thể nào lầm lẫn với Personnalisme của Mounier (Duy Tâm Tây Phương) được”. Ông nói: “Mọi việc đă được sáng tỏ và cuộc điều tra lịch sử nầy chấm dứt với kết luận: Chủ Thuyết Nhân Vị của hai Ông Diệm-Nhu mang một bản chất văn hóa và chính trị hoàn toàn Việt Nam” (in đậm của chính TS Tấn)

Tiến sĩ Tấn đă minh chứng thêm xác quyết của ông với những trích dẫn trực tiếp từ một số tuyên bố của Ông Diệm và Ông Nhu:

Ông Ngô Đ́nh Diệm:

“Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác ǵ nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang” (nói với kư giả Marguerite Higgins)

Ông Ngô Đ́nh Nhu:

“Chủ Thuyết [Nhân Vị] đặt nền tảng trên quan niệm tôn trọng phẩm giá con người và đẩy mạnh sự phát triển đến mức độ cao nhất. quan niệm nầy … ở ngay trong truyền thống dân gian Việt Nam” (Đại Hội Văn Hóa Quốc Gia, 11-1-1957) 

“Tôi phải nói ngay rằng: “Chủ Thuyết Nhân Vị của tôi chẳng có dính dáng ǵ đến cái Nhân Vị Công Giáo đang được giảng dạy bởi các tổ chức Công Giáo tại miền Việt Nam … Hiện nay cái học thuyết Nhân Vị mà tôi cổ vơ là một nền dân chủ đấu tranh trong đó tự do không phải là một món quà của Ông Già Noel, nhưng mà là kết quả của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng suốt trong đời sống thực tế, không phải trong một khung cảnh lư tưởng, mà trong những điều kiện địa lư chính trị đă được định sẳn” 

Phỏng vấn với báo Toronto Globe and Mail, trong Nguyệt san Gió Nam, 5-5-1963)

TS Tấn kết luận:

“Giải pháp Nhân Vị mà Ông Diệm và Ông Nhu đă cổ vơ 40 năm về trước là mô h́nh “Xă Hội Dân Chủ Nhân Vị” đă được thí nghiệm ở Miền Nam từ 1954 đến 1963: kinh tế thị trường với sự mền dẽo của một chính phủ phúc lợi, thực hiện công bằng xă hội và dân chủ thật sự ở hạ tầng cơ sở với định hướng dân chủ trên thượng tầng kiến trúc … Chũ Nghĩa Nhân Vị chỉ được thử nghiệm trong một thời gian ngắn ở Miền Nam Việt Nam, nhưng trong lănh vực lư thuyết hàn lâm, Chủ Nghĩa Nhân Vị có một giá trị đóng góp lâu dài và quan tọng vào công cuộc phát triển con người nói chung và đặc biệt tại các quốc gia nghèo đói hiện nay” 



“Ông Diệm đă hạ quyết tâm, “chọn con đường hy sinh để bênh vực phẩm giá con người:  người ta có thể hủy diệt Ông Diệm, nhưng không thể cướp đi những giá trị thuộc về Ông ấy. Do đó, trên căn bản đạo đức nghề nghiệp, các sử gia có bổn phận đem trả lại cho Ông Diệm những ǵ thuộc về Ông ấy và nền Cộng Ḥa. Hăy trả lại cho lịch sử những ǵ thuộc lịch sử”

Ottawa Mùa Xuân 2006

 

 

Trở về đầu trang