|
|
Làm sao để thắng sợ hăi
I. Nguồn gốc của sự sợ hăi nói chung
- Khi
không nhận ra hoặc phủ nhận Thượng Đế, Thần Phật nên cuộc sống thiếu nền tảng.
- Khi
không cảm nhận được Thượng Đế, Thần Phật hài ḷng, chỡ che và chúc phúc.
- Khi
làm điều sai, bị lương tâm dày ṿ hoặc thấy cần phải che dấu.
- Đối
mặt với các bí ẩn cuộc đời, nhất là cái chết thê lương.
- Đối
mặt các đe dọa “được xem” là mạnh hơn ḿnh.
- Đối
mặt các đe dọa mông lung mơ hồ chưa hiểu rơ.
- Đối
mặt các phiền phức, đau thương, khốn đốn hầu chắc sẽ xảy ra cho thân nhân.
- Đối
mặt các thế lực hung bạo sẵn sàng gây hại cho thân xác, mạng sống và danh dự
ḿnh.
- Đối
mặt với sự bất lực cố níu giữ địa vị, quyền lợi có nguy cơ đe dọa tuột khỏi
tầm tay.
II. Nguồn gốc của
sự sợ hăi do bạo quyền độc đoán, phát-xít, cộng sản và do
CSVN:
Ngoài các nguồn gốc chung nói trên, các đặc
trưng sau đây, nhất là về nỗi sợ
hăi có tính CSVN, muốn thắng vượt, cần
nhận diện cho rơ:
- Một
quần chúng luôn bị theo dơi, bị ŕnh ṃ,
có thể bị hạch họe, bị bắt
bất cứ lúc nào.
- Một
quần chúng thấp kém về nhận thức,
quá mau mắn nhẹ dạ tin nghe theo sự
tuyên truyền của CSVN. Chỉ cần vài
xảo ngôn, thủ thuật là NN có thể
ngụy biện lừa gạt được
quần chúng rồi.
- Một
quần chúng quá quen với gian dối xảo
trá, ứng xử trâng tráo, trơ trẽn,
rất thiếu liêm sỉ.
- Một
quần chúng rất dễ bị xách động
để “xét xử, phê b́nh, đấu tố”
“đồng bào” ḿnh. V́ lúc đó, “đồng
bào” đă trở thành “kẻ thù nhân dân” rồi.
- Một
NN chuyên dùng đe dọa, trừng phạt
để khống chế Dân, buộc Dân vừa
luôn “phấn khởi, hồ hởi, nhiệt
liệt” hoan hô ca tụng NN liên tục, không
c̣n chút liêm sỉ, vừa luôn lệ thuộc
NN từ sổ hộ khẩu, thẻ chủ
quyền nhà đất, điện thắp,…đến
xong đại học rồi bằng tốt
nghiệp vẫn có thể bị “giam lại”,
vào quan tài chưa chắc đă được
cấp.
- Một
NN luôn rêu rao là “v́ Dân, của Dân, do Dân” nhưng
chuyên bắt Dân “mang ơn bác, đảng”
đến chết cũng đáp nghĩa chưa
xong.
- Một
hệ thống Pháp luật quá độc đoán,
áp đặt, mâu thuẫn, chồng chéo. Kết
tội “gián điệp, xâm phạm an ninh quốc
gia, gây mất đoàn kết, lợi dụng
dân chủ, chống đối chính sách,…” quá
dễ dàng; phạm vi quá mông lung, mơ hồ,
hoàn toàn theo ư chủ quan của đảng
và NN. Các Nước làm luật để “ngăn
ngừa Nhà Cầm Quyền đừng lạm
dụng xâm phạm đời sống Dân”,
c̣n CSVN làm luật để “giới hạn
quyền tự do rất chính đáng của
Dân để đảng và NN được
an toàn”.
- Các
trừng phạt mang tính đê hèn, hậu quả
ảnh hưởng quá dễ dàng và lâu dài trên
mọi thành viên của gia đ́nh, gịng tộc,
“di truyền” cho nhiều thế hệ xuyên
qua “chủ nghĩa lư lịch”.
III. Để thắng
vượt sự sợ hăi nói chung:
1. Nền tảng cơ bản trên hết và trước hết : Tâm hồn trong sáng. Phải khiêm tốn nh́n nhận rằng: con người không thể tự
đứng vững một ḿnh trên đời được mà phải có sự trợ giúp của Ơn Trên. C̣n Ơn Trên
chỉ có thể tác động hiệu quả nơi một tâm hồn thành kính. Muốn có một tâm hồn
thành kính liên lạc thân mật thường xuyên với Cha Toàn Năng, điều cơ bản là tâm
hồn ấy phải trong sáng tối đa có thể. Khi tâm hồn thanh khiết, người ấy sẽ cảm
nhận một sức mạnh nâng đỡ lớn lao liên lỉ đêm ngày từ Trên Cao, thanh thản trước
các đe dọa của bất cứ mănh lực nào. Khi làm điều tội lỗi sai trái th́ dù một trẻ
em, chúng ta cũng sợ em đó biết, thấy và nói ra.
2. Để nuôi dưỡng và củng cố tâm hồn thanh
khiết, cần có đời sống thiền định, cầu nguyện, tĩnh tâm: Một chiến sĩ dân
chủ đích thật, phải có ít nhất mỗi ngày 30 – 60 phút tĩnh tâm, thiền định, cầu
nguyện. Cần ngồi lưng thẳng, mắt khép, thở sâu, nhẹ và đều. Tập trung tư tưởng
rồi nghĩ đến và tâm sự với Đấng Tối Cao mà ḿnh tin yêu phó thác. Dù gọi là
Thiên Chúa, Thượng Đế hay Đức Phật, thực ra người b́nh dân thường cũng chỉ nhắm
đến một Cha Toàn Năng mà thôi. Chính đời sống thiền định, cầu nguyện nầy sẽ giúp
chúng ta vượt thắng mọi sợ hăi.
3. Không hận thù, căm tức: Chúng ta
không tán thành tội ác, lên án điều ác xấu bất cứ từ đâu, nhưng chúng ta luôn
thao thức và cầu nguyện cho người đang làm điều ác, nhất là những người v́ cơm
áo mà phải phục vụ bạo quyền. Một quả tim luôn yêu thương th́ hằng vững mạnh.
Thánh Gioan đă xác quyết ngay từ cuối thế kỷ I : “T́nh yêu hoàn hảo loại trừ mọi
sợ hăi” (Tân Ước, 1Ga 4,18). Nếu chúng ta hận thù, căm tức th́ chúng ta yếu đi
rất nhiều. Sức mạnh của chúng ta cốt ở chỗ luôn yêu thương, hằng từ bi, măi
thông cảm, kiên tŕ lễ độ nhẫn nhịn khoan dung.
4. Không ước muốn tầm thường: Con
người cao cả, có giá trị và hạnh phúc nhờ sống trong sạch và hữu ích cho người
khác. Do đó không nên ham muốn những điều mà không có chúng, chúng ta vẫn sống
được. Càng không nên ham muốn những điều mà để có được chúng, chúng ta buộc ḷng
phải trở nên yếu đuối bạc nhược c̣n hơn một em bé thèm kem, phải qụy lụy cầu
cạnh đôi khi không c̣n chút liêm sỉ. Để vô úy (không sợ), một trong các điều cần
thiết đầu tiên là phải vô cầu (không xin). (“Vô cầu” ở đây chỉ nhắm đến việc
không cầu cạnh xin xỏ người đời).
IV. Để thắng vượt sự sợ hăi đặc trưng do
bạo quyền CSVN gây ra:
Cần xác định cho thật chính xác và rơ các điều
sau đây :
1. Mọi
thế lực gian ác không bao giờ mạnh cả,
tự bản chất, thế lực gian xảo
là rất yếu, luôn luôn yếu, chỉ tạm
thời “mạnh” bề ngoài và chỉ “xem ra
mạnh” về bạo lực, bạo quyền
mà thôi. Ngay cả các nhân viên của bạo quyền
cũng tự cảm thấy ḿnh dựa trên
một quyền lực hư ảo, v́ chỉ
run rẩy chao đảo dựa trên sự sợ
hăi của Dân, không thể t́m được
chỗ tựa vững chắc và bền lâu là
ḷng kính trọng, khâm phục và tin yêu của
người Dân. Do đó, đứng trước
sự hiên ngang, vô tội, ngay thẳng của
người Dân th́ bạo quyền run sợ,
lúng túng, đành phải dọa nạt, trấn
áp, mắng chửi, bôi lọ và đánh đập
hành hung. Bạo quyền VN gian trá quá lâu - 75 năm
rồi - nên ngày càng yếu hơn. Vậy nếu
chúng ta b́nh tĩnh và sáng suốt, ôn ḥa mà hiên ngang,
dịu dàng nhưng cương quyết th́ chúng
ta không sợ ai cả, trái lại c̣n chinh phục
được các nhân viên của bạo quyền
nữa.
2. Không ngụy biện rằng chúng ta không cần
điều ǵ đó cho chúng ta, nhưng chỉ
v́ người thân mà chúng ta phải làm điều
nầy điều nọ. Một Linh mục
chánh xứ một giáo xứ 5 ngàn giáo hữu
khi được mời kư tên phản đối
việc NNVN chiếm đoạt đất Ḍng
Thiên An - Huế đă trả lời rằng
: “Tôi không thể kư tên được, v́ sẽ
ảnh hưởng đến 5 ngàn giáo hữu
xứ tôi”. Giáo hữu xứ ấy nghe biết
và quá thất vọng thấy Linh mục quản
xứ của ḿnh cố t́nh không muốn hiểu
rằng : Nếu Vị ấy kư tên th́ sẽ
có thêm 5 ngàn giáo hữu ủng hộ Ḍng Thiên
An mà chẳng em học sinh nào sẽ bị đuổi
học v́ ủng hộ Ḍng Thiên An cả ! Cũng
v́ thế mà trong khi TDTG ở VN hầu như
mọi người đều thấy là chưa
có, thế mà Linh mục ấy lại trả
lời với báo chí VN rằng “TDTG ở giáo
xứ tôi nhiều quá dùng không hết, nào là, nào
là…”. Đáng tiếc, các kiểu ngụy biện
nầy thường được “vận
dụng một cách sáng tạo, linh hoạt” quá
nhiều hiện nay tại VN. Người thân
chúng ta cần an ninh, cần cơm gạo, cần
học hành,…nhưng người thân chúng ta c̣n
cần sự hiên ngang, anh dũng chiến đấu
cho lẽ phải của chúng ta và của chính
họ hơn cả mọi thứ khác và chúng
ta có bổn phận giúp người thân hiểu
rơ điều nầy, nếu giả như họ
chưa hiểu. Thực ra người b́nh dân
thường trực giác và phán đoán về
đúng / sai nhạy bén và chuẩn hơn người
đă có chút địa vị, quyền lợi.
Nếu một em học sinh lớp 10 được
hỏi rằng : “Em muốn ba luồn lách để
em được tiếp tục đi học,
hay muốn ba em hiên ngang hùng dũng dù em phải
nghỉ học?” Có lẽ đa số học
sinh sẽ chọn phương án 2 ! Đáng buồn
là đa số phụ huynh cứ tự cưỡng
ép ḷng mà chọn phương án 1 và cho rằng
đó là “khôn ngoan” nhất. Chúng ta phải tin
vào sự chuẩn xác của lương tri tự
nhiên của những người “trong sạch”
nhất dù là thiếu nhi.
3.
Nếu đông người cùng làm một điều
ǵ đó hợp lẽ phải th́ bạo quyền
sẽ không làm ǵ được. NNVN vẫn luôn
rêu rao rằng là một NN “v́ Dân, của Dân, do
Dân”. Do đó, chúng ta phải khôn ngoan triệt
để vận dụng nguyên tắc nầy
mà đoàn kết lại để bảo vệ
các quyền cơ bản của chúng ta. Cần
nghiên cứu vài điều cơ bản của
Hiến pháp 1992, bộ luật H́nh sự 1995
và các bộ luật khác để buộc các
Cán bộ NN ít nhất phải giữ Pháp luật
theo nguyên tắc : “Dân được phép làm tất
cả những ǵ Pháp luật không cấm rơ ràng,
c̣n Cán bộ không được phép làm ǵ Pháp
luật không cho phép”(ví dụ đánh đập
Dân; lục soát, khám xét nhà hoặc sờ đụng
vào người và đồ đạc của
Dân khi chưa có lệnh chính thức…). Dù một
điều mà bạo quyền buộc Dân làm
(như đi bầu cử Quốc hội và
HĐND các cấp,…), nhưng Dân thấy vô lư,
giả tạo, gian trá, bất công, lố bịch,…
mà đông người cùng nhau quyết tâm không
làm (như trong cùng 1 khu phố, 1 thôn, 1 khuôn hội,
1 giáo xứ, 1 phường, 1 xă,…), th́ NN luôn tự
cho ḿnh là “v́ Dân” đành buộc ḷng phải thua
Dân, sẽ tỏ ra rất lúng túng buồn cười.
Ví dụ kỳ bầu cử Quốc hội
2007 tới đây, nếu Dân, nhất là các Nhân
sĩ có địa vị, biết tẩy chay
tṛ bầu cử giả tạo đă kéo dài quá
lâu (11 kỳ trong 60 năm) nầy, cương
quyết đồng loạt cùng nhau không đi
bầu, th́ sẽ rất hài hước lắm
đây.
4. Khi có việc va chạm với Dân, Cán bộ
một bạo quyền luôn sợ hăi, chóng mệt,
mất kiên nhẫn hơn Dân, nếu Dân biết
sức mạnh có thật dựa trên lẽ phải
của ḿnh. Các Cán bộ dù luôn muốn thăng
chức lên lương, nhưng vẫn vừa
bị lung lay trong bạo lực tham tàn, vừa
luôn nôn nóng về với gia đ́nh, t́m chỗ
yên thân, bất đắc dĩ mới phải
va chạm Dân, nên bề ngoài th́ hùng hổ, quát
tháo mà bên trong th́ căng thẳng, lo âu, sợ
hăi. Mỗi khi chúng ta bị phiền lụy,
bị giữ lại đồn bót, bị tạm
giam ở Công an phường, xă, huyện,…nếu
chúng ta biết b́nh thản, lịch sự, vui
vẻ chấp nhận giá phải trả của
một chiến sĩ dân chủ luôn ôn ḥa bất
bạo động (không có chi nhiều, chỉ
cần an tâm thanh thản ngồi yên lặng,
nghỉ ngơi, thiền định và cầu
nguyện ở nơi bị tạm giữ bao
lâu cũng được, không một chút nôn
nóng muốn được về sớm), th́
Cán bộ của bất cứ loại bạo
quyền nào cũng chóng mệt mỏi hơn
chúng ta và sẽ t́m cách dọa nạt qua loa rồi
đành để chúng ta ra về, chứ biết
làm ǵ hơn.
5. Trước đây NNVN vốn không đáng
sợ như nhiều người đă lầm
tưởng, và kể từ đầu năm
2005, đặc biệt từ tháng 8.2005, NNVN
càng không đáng sợ nữa, v́ đă bộc
lộ rơ hơn các suy yếu:
- Cùng
lúc phải chịu 6 áp lực rất mạnh, nếu kể riêng các Tôn giáo (cùng với Dân) ngày
càng đấu tranh với NN bằng nhiều h́nh thức ngày càng mạnh th́ NNVN đang phải
chịu 7 áp lực cùng lúc (x. Vấn đề tương lai gần của VN – cùng tác giả ngày
08.8.2005).
- Một
NN chỉ biết lợi dụng sự sợ hăi của người Dân để tồn tại th́ không thể mạnh
được.
- Đa
số Cán bộ không c̣n tin vào CNXH nữa.
- Đa
số Cán bộ không c̣n tin vào tầng lớp lănh đạo nữa.
- Đa
số Cán bộ không c̣n thiết tha củng cố quyền lực NN như trước nữa.
- Đa
số Cán bộ không c̣n hăng say “thi hành nhiệm vụ đảng và nhân dân giao phó”
cách sáo rỗng như bao năm qua đă từng mê muội bị lợi dụng nữa.
- Đa
số Cán bộ hiện nay đă thấy rơ tính độc đoán, mâu thuẫn, chồng chéo và bất hợp
lư của Hiến pháp và hệ thống Pháp luật của NNVN, nên rất mất tự tin khi bị
buộc gượng ép hành xử.
- Đa
số Cán bộ hiện nay chỉ chăm chăm t́m cơ hội làm kinh tế, thu vén thêm ngày nào
hay ngày đó, t́m chỗ quen thân để tham gia cổ phần hóa các doanh nghiệp NN,
chuẩn bị cho ngày tàn của chế độ.
- Đa
số Cán bộ hiện nay xấu hổ về các quyền lợi ḿnh đang hưởng một cách quá bất
công.
- Một
số Cán bộ không c̣n dám mạnh tay đàn áp Dân thô bạo như trước nữa.
- Một
số Cán bộ lo cho “hậu sự”, không dám làm mất ḷng Dân, đề pḥng cho “ngày mai”
thay chủ đổi ngôi đang trong tiến tŕnh xảy đến và chắc chắn phải đến.
- Một
NN dồn Dân đến chỗ tự thiêu (PGHH), th́ NN đó là loại NN ǵ ? NN ấy chắc chắn
đang bộc lộ rơ bản chất đớn hèn của ḿnh và đang lết đến hồi tự kết thúc,
không thể đảo ngược.
Do đó, nếu Dân biết mạnh mẽ biện luận, th́ Cán bộ đành êm re, chuồn khéo cho
mau…
6. Trong lúc toàn Dân VN chưa
có Tự do Ngôn luận b́nh thường như hầu hết các Nước toàn cầu theo qui định của
Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc (LHQ) ngày
16.12.1966 và NNVN đă xin gia nhập ngày 24.9.1982 (mà không hề giữ), th́ một
chuyện Dân cần biết nhất để b́nh thản đối phó hiện nay là : Nếu khi đang đọc 01
tờ báo, 01 cuốn sách, 1 tài liệu như bài nầy mà gặp loại Cán bộ
HCM-Mácxít-Lênin-nít gây khó dễ th́ :
- Lịch sự hỏi Cán bộ : “Chúng ta đang ở trong một Nước VN văn minh hay không ?
Đương nhiên Cán bộ phải trả lời : “Tất nhiên là văn minh rồi”. - “Thế th́ VN
phải tuân giữ điều 19,2 của Công ước Quốc tế của LHQ” (x. Phụ lục đính kèm đặc
biệt cho bài nầy).
- Nếu Cán bộ vẫn độc đoán cho rằng: “Đă vi phạm luật pháp của NNVN”, th́ chúng
ta ôn tồn đáp lại: “Chúng tôi chỉ muốn đối thoại với Nhân viên một NN văn minh.
C̣n nếu NN nầy là một NN độc tài chuyên chính, th́ chúng tôi không c̣n ǵ để nói
nữa. Xin mời Cán bộ cứ việc thi hành nhiệm vụ mất hết nhân tính nầy. Hết”. Không
nói nhiều.
7. Dù hệ thống Pháp luật VN hiện nay c̣n rất độc đoán áp đặt, thực tế, nếu nhân
danh quyền Tự do Ngôn luận rất chính đáng của người Dân mà Nước nào đă gia nhập
LHQ như VN đều phải thật ḷng tôn trọng, th́ việc nghiên cứu, thông tin và bất
cứ hành động đấu tranh ôn ḥa bất bạo động nào cũng không đủ lư do để bị bắt. Và
nếu NN bắt càn ẩu th́ cũng không thể đưa ra ṭa xét xử công khai được mà đành
phải “xử chui” một cách rất ô nhục như các phiên ṭa chùng lén đă và đang xảy ra
mà thôi. Dân không nên sợ loại phiên ṭa lén lút rất man trá nầy. Chỉ cần im
lặng trước “ṭa” là đủ làm NNVN quá sợ hăi và mất hết uy tín rồi. Không cần nói
ǵ thêm với NN độc tài cả. Nếu Dân cùng nhau dành lấy quyền Tự do Ngôn luận hoàn
toàn chính đáng cho ḿnh, th́ NN đành phải nhượng bộ dù vẫn c̣n hù dọa bằng vài
loại đàn áp cổ điến và tinh quái khác mà cùng lắm chúng ta chỉ cần can đảm chấp
nhận phiền lụy đôi chút lúc đầu rồi đâu lại vào đó ngay, không cần quá bận tâm
lo âu về chúng (v/d : bị cắt điện thoại, thu sổ hộ khẩu, giam bằng đại học, gây
rắc rối khó khăn về thương mại, giao thông, bị lệnh quản chế,…). Khi không ngại
các phiền lụy ấy, chúng ta sẽ thấy chúng chỉ là chuyện quá nhỏ so với sứ mạng
cần phải giải thoát toàn Dân khỏi ngục tù nô lệ mới hôm nay. Là một qui luật,
trong mọi cuộc đối đầu, đặc biệt trong cuộc đối đầu toàn cục có tính quyết định
cuối cùng nầy, nếu chúng ta không sợ bạo quyền, th́ bạo quyền buộc phải sợ chúng
ta !!!
8. Khước từ mọi h́nh thức bạo lực : Người sử dụng bạo lực là đă tỏ ra yếu đuối rồi.
“Sức mạnh” trên đầu ngọn súng th́ muôn ngàn lần thua xa sức mạnh của quả tim và
lương tri. Bạo lực chỉ sinh ra sợ hăi dây chuyền. T́nh yêu, kiên nhẫn, lẽ phải
sinh ra b́nh an và sức mạnh trường cửu chân chính. Kể cả bạo lực của ngôn từ
(cường điệu thái quá) chúng ta cũng phải tránh xa mới dễ thuyết phục ḷng người.
Lời Ngài Mahatma Mohandas K. Gandhi “Khi tôi phê phán đối phương, tôi chỉ phê
phán 80% sai lầm của họ, pḥng khi tôi quá xúc động mà lỡ lời th́ chỉ tăng lên
đôi chút là vừa với sự thật, khỏi gây nên bất công cho đối phương” đáng cho
chúng ta tâm đắc và nguyện quyết tâm sống theo. Đầu năm 2001, tác giả đă kêu gọi
2 lần trước Quốc hội Mỹ rằng: “Để giải quyết vấn đề VN, cần làm sáng tỏ công và
tội của ông Hồ Chí Minh, v́ đây là một con người đại gian ác, siêu cao thủ,
lường gạt được gần cả thế giới” th́ hoàn toàn chính xác, chứ không cường điệu
chút nào. Đấu tranh ôn ḥa bất bạo động là như thế.
9. Luôn tích cực chinh phục mọi đối tượng, kể cả đối phương : Nếu chúng ta chỉ phê
phán đối phương mà không sao thuyết phục được họ th́ phương pháp và nội dung phê
phán của chúng ta chưa khách quan và khoa học đủ. Chúng ta muốn giải cứu toàn
Dân khỏi nô lệ lầm lạc th́ trong đó có bao gồm một bộ phận không nhỏ tuy tạm
thời đang là đối thủ, nhưng vẫn là đồng bào và một ngày nào đó chắc chắn sẽ phải
trở thành đồng minh của chúng ta. Do đó, dù đang là đối tượng bị đe dọa, bị lên
án, chúng ta vẫn vững tin vào lẽ phải mà t́m mọi cách và mọi dịp thuận tiện để
chinh phục cho được đối phương càng đông, càng nhanh, càng tốt. V́ thế, là chiến
sĩ ḥa b́nh, chúng ta phải luôn yêu thương, hằng từ bi, măi thông cảm, kiên tŕ
lễ độ nhẫn nhịn khoan dung mới có thể thành công được, không có chỗ cho sợ hăi
và hận thù.
Mến chúc Quư Vị và Bạn hữu luôn nhân từ,
an vui, tĩnh định và chấm dứt hết mọi loại sợ hăi.
Phụ lục đặc biệt cho “Làm sao để thắng sợ
hăi”
I. Trích “Hiến pháp Nước CHXHCN VN” năm
1992.
Điều 69 : Công dân có quyền Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí ; có quyền được thông
tin ; có quyền hội họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật.
*** Hiến pháp vừa xác nhận 5 quyền xong, th́ dùng cụm từ “theo quy định của pháp
luật” để phủ nhận lại 5 quyền đó ngay. Các NNCS Âu Á đều luôn luôn biết ngụy
biện chơi chữ như vậy. Kết quả là suốt 60 năm qua VN không có một tờ báo độc lập
hoặc tư nhân nào cả, 6 TG lớn ở VN không hề có một tờ báo nào của chính TG ḿnh,
và nguyên việc photo và chuyền tay nhau đọc bản văn nầy đă có thể bị CA mời “làm
việc”, bị buộc viết kiểm điểm, bị đuổi khỏi trường học, bị không cho vay vốn
“quỹ v́ người nghèo”, bị “giam” bằng tốt nghiệp đại học, bị đuổi khỏi sở làm, bị
đưa vào trại tù đội lốt là trại “cơ sở giáo dục”, hoặc bao phiền lụy đau đớn
khác…
Đây chính là “quyền tự do dân chủ ưu việt định hướng XHCN của VN” rất đẹp mặt
giữa “nhân loại lạc hậu” hiện nay đó !!! C̣n những ai cố t́nh dùng “pháp luật
độc đoán” để ngăn cấm quyền Tự do Ngôn luận rất chính đáng của người Dân, th́
không c̣n ǵ để nói với họ nữa, người Dân chỉ c̣n biết cách “tự nguyện đưa 2 tay
vào c̣ng số 8” và hiên ngang tự hào ḿnh là một chiến sĩ đích thật của nền Dân
chủ chân chính của VN mới.
II. Trích “Công ước Quốc tế về các quyền
Dân sự và Chính trị”, của LHQ 16.12.1966,
Việt Nam gia nhập 24.9.1982.
Đ́êu 5,1: Không được phép giải thích bất kỳ một quy định nào của Công ước
nầy…nhằm hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước nhằm
giới hạn những quyền và tự do đó quá mức độ quy định trong Công ước nầy.
Điều 5,2: Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ quyền cơ bản nào của
con người đă được công nhận hoặc hiện tồn tại ở một quốc gia thành viên của Công
ước nầy trên cơ sở luật điều ước, các quy định pháp luật, hoặc tập quán với cớ
là Công ước nầy không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận ở một mức độ thấp
hơn.
Điều 19,2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền nầy bao gồm cả quyền
tự do t́m kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ư kiến, không phân biệt
ranh giới, h́nh thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng h́nh
thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa
chọn của họ.
(Các Văn kiện Quốc tế về Quyền Con người, NXB Tp HCM, 1997 trang 109,110, 117).
*** Các Nhà nước độc tài thường lạm dụng điều 19,3,b :
đại ư : quyền ở khoản 2 điều 19 trên đây có thể bị hạn chế phần nào “để
bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công
chúng”(nguyên văn). Nhưng vấn đề then chốt là :
1/- An ninh quốc gia được gia tăng khi toàn dân được thông tin thông thoáng,
được tiếp cận t́nh h́nh thế giới, được mở rộng tầm nh́n hay nhờ Nhà nước độc
quyền bưng bít như Phát-xít ?
2/- “An ninh quốc gia”, “đoàn kết dân tộc” hay “an toàn cho thế lực cầm quyền”
luôn được tự đồng hóa với Dân tộc, Quốc gia một cách rất ngụy biện xảo trá ?
3/- Dùng đến phương tiện nào th́ mới gây hại cho “Quốc gia”: đao kiếm, súng đạn,
quân đội, khủng bố hay chỉ là 1 Email, 1 tờ giấy? Phải có tiêu chí rơ ràng được
LHQ công nhận như điều 19,2 trên đây, nếu VN không muốn không giống ai giữa nhân
loại văn minh hôm nay, làm ǵ có chuyện “đi trước đón đầu”, “dân chủ ưu việt hơn
bất cứ h́nh thức dân chủ nào trên thế giới” như NNVN hằng rêu rao ???./.
Trở về đầu trang
|