Trang Chính | LLQDVN | Tin Tức | Thời Sự | Tham Luận | Sinh Hoạt | Cộng Đồng | Tài Liệu | Thi Nhạc | Phim Ảnh | Liên Lạc | English

Giáo Dục Tuổi Trẻ

Giáo hóa quần chúng là mục tiêu đầu tiên của chính phủ.
Public instruction should be the first object of government.
                                                                     Napoleon
Le rôle de l'école est d'entretenir l'idealism dans l'âme humaine.
                                                                 Henri Roorda

Từ ba thập niên qua, thế giới đă chuyển ḿnh. Hoàn vũ hóa đă thay đổi bộ mặt của nhiều quốc gia. Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật vẫn đang đến với nhân loại với tốc độ tên bay. Tất cả các quốc gia đều muốn tham gia vào trong cuộc cạnh tranh trí tuệ. Ai cũng nuôi mộng được xếp hàng đầu trong cuộc thi đua này, hay ít ra cũng không bị đứng bên lề nền văn minh hoàn cầu. Trong bối cảnh ấy, giáo dục và giới trẻ được đặc biệt lưu tâm. 

Tuổi trẻ không chỉ là một phần tử xă hội, một con số trong nhân khẩu học. Tuổi trẻ là biểu tượng của những hoài băo sâu kín, mănh liệt nhất, là ngọn đuốc hy vọng của cả dân tộc. Quốc gia nào d́u dắt được giới trẻ vào quỹ đạo tiến hóa khoa học, nhân văn bằng một nền giáo dục nhân bản, khai phóng th́ quốc gia ấy ắt sẽ giàu mạnh.V́ thế tại hầu hết tất cả các nước trên thế giới, nhiều chương tŕnh nghiên cứu cũng như nhiều phương án cải tổ giáo dục được đưa ra bàn căi, thực nghiệm. Giáo dục và tuổi trẻ  vẫn đang và sẽ là một mối bận tâm hàng đầu của tất cả những nhà giáo dục và chính trị gia trên thế giới. 

Đă có biết bao tác phẩm bàn luận về đề tài cải tổ giáo dục. Nhưng những nguyên tắc căn bản của giáo dục vẫn không thay đổi từ thời Platon, Aristide,  JJ Rousseau đến ngày nay. Mục tiêu tối hậu của Giáo dục là đào tạo Con Người theo ư nghĩa cao cả nhất: Nhân, Trí, Dũng. Một cách khác, cơ bản giáo dục vẫn phải là rèn luyện đạo đức, phát huy tŕnh độ nhận thức tâm linh, ư thức xă hội, tinh thần hiếu học, óc sáng tạo. 

thời điểm hiện tại, trong  một xă hội tiêu thụ, nhiều giá trị tinh thần bị xao nhăng. Nhiều người bi quan cho rằng cuộc sống vật chất đă dẫn đến sự ra đời của một thế hệ trẻ hoàn toàn vị kỷ, ít ư thức xă hội v́ thế hệ thống giáo dục đang có nguy cơ tha hóa

Trên thực tế, chân dung của những người trẻ có thực sự tiêu cực như mối e ngại của một số chuyên gia giáo dục không? Chúng ta hăy đi một ṿng theo dơi các cuộc thăm ḍ về tư duy giới trẻ -từ 18- 29 tuổi- tại các nước Âu Mỹ như, Pháp, Ư, Anh, Hoa kỳ, Canada. (PRONOVOST, Gilles & ROYER, Chantal, Les valeurs des jeunes, Presses de l’Université du Québec, 2004 p. 14-28). 

Một cách đại cương, mặc dù có một vài dị biệt nhỏ giữa các quốc gia, nhưng các cuộc thăm ḍ về tâm tư  những người trẻ tại các nước kể trên đều hài ḥa, đồng quy. Trái với dự đoán, đại đa số người trẻ chia sẻ với các bậc cha mẹ những giá trị tâm linh phổ quát. Hạnh phúc  đối với họ dựa trên cơ sở Gia đ́nh, Sự nghiệp, Bằng hữu. Gia đ́nh giữ một vai tṛ quan trọng đối với tuyệt đại đa số người trẻ được phỏng vấn. Nhiều người trẻ vẫn xem trọng hôn nhân. 

Sự nghiệp luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Nhiều người kỳ vọng nghề nghiệp của họ sẽ giúp họ đạt được sự viên măn về tinh thần. Tuy nhiên, đa số không muốn việc làm chiếm hết th́ giờ của họ. Khác với thế hệ cha anh, người trẻ có thể ít tham vọng và thực tế hơn, họ dành một chỗ đứng quan trọng cho những sinh hoạt giải trí. Người trẻ ít tham gia vào những hoạt động chính trị hơn các thế hệ trước. Họ đặt ít niềm tin vào các chính trị gia và các bài diễn văn chính trị quá khích. Nhưng nhiều người có những mối ưu tư về môi trường, nhân sinh, v́ thế họ thường tham gia vào các hiệp hội có tính cách xă hội hơn là các tổ chức chính trị. Đại đa số người trẻ yêu chuộng ḥa b́nh, tự do, b́nh đẳng, họ chống đối nạn kỳ thị, bạo hành. Nhiều người vẫn c̣n niềm tin vào thượng đế tuy rằng ḷng mộ đạo nơi người trẻ giảm xuống so với các thế hệ trước.

Ngoài ra lớp người trẻ hiện tại là những người có tŕnh độ học vấn cao hơn các thế hệ cha anh. Từ thập niên  70 trở đi, số học sinh ghi danh và tốt nghiệp đại học, hậu đại học ngày càng gia tăng. Ở Pháp, từ năm 1980 đến năm 1994, tổng số sinh viên đai học tăng từ 800.000 đến 1.250.000. Số lượng các sinh viên tốt nghiệp cử nhân và tiến sĩ đă tăng gấp đôi. Thị trường sản xuất sách giáo khoa tại Pháp đă đặc biệt hưng thịnh từ 20 năm qua do việc gia tăng đông đảo số học sinh các cấp. (Enquête sur la lecture, Sciences humaines, Juin 2005, p.36) 

Tuy bức tranh về thế hệ trẻ vừa rồi đem lại cho chúng ta sự lạc quan, tầng lớp người trẻ hiện nay dễ dàng là nạn nhân của một xă hội đổi mới.

Toàn cầu hóa có phải là nguyên nhân của một số hiện trạng xă hội tiêu cực ngày nay? Câu trả lời dễ dàng trở thành một đề tài thảo luận sôi nổi. Nhưng thực tế hiện tại tại nhiều quốc gia, ngay cả những nước tân tiến cho thấy rằng: nạn thất nghiệp gia tăng, việc làm mất tính cách lâu dài. Những người trẻ, tuổi từ 25 đến 35  là nạn nhân trực tiếp của những tệ nạn này. Nhiều người trẻ, dù có học vị cao, vẫn không t́m được việc làm tương xứng với khả năng của ḿnh, nhiều người phải chấp nhận những việc làm bán thời gian, tạm bợ. Có thể nói đây là lần đầu tiên, cả một thế hệ có tŕnh độ cao hơn thế hệ cha anh mà phải chịu những điều kiện, đồng lương thấp kém hơn. Nạn thất nghiệp, sự bấp bênh của việc làm dẫn đến sự thất vọng của người trẻ đối với hiện tại lẫn tương lai.

Ngoài ra, sự cạnh tranh sản xuất, sự phát triển của một xă hội cơ khí hóa, con người không ngừng chạy đua với thời gian. Tại thật nhiều nơi, người công nhân làm việc với thể xác mệt mỏi.  Sự tiến bộ vượt bực của khoa học, kỹ thuật, tin học cùng với sự thay đổi nhanh chóng của xă hội đă dẫn đến những khủng hoảng khá trầm trọng. 

Xă hội tư bản  tạo ra những nhu cầu, tiện nghi vật chất nhưng lại xao lăng những đ̣i hỏi tâm linh. Khi đời sống mất đi ư nghĩa tinh thần, con người dễ dàng là nạn nhân của sự căng thẳng, buồn nản.

Xă hội đương thời không đáp ứng được nhu cầu giới trẻ. Nhiều người trẻ mất phương hướng trong một xă hội chao đảo. Và đối với một số người trẻ, đi học đồng nghĩa với đầu tư: hy sinh hiện tại để có một đời sống tương lai đảm bảo.  

Khi mà kỳ vọng này trở thành những mơ ước viển vông th́ người trẻ dễ bị nhụt chí không c̣n mong muốn theo đuổi việc học nữa. Québec là một trong những nước Tây phương dẫn đầu về nạn bỏ học. 

Nói tóm lại, cơ cấu sinh hoạt của xă hội ngày nay đă thay đổi. Sự kiện này có tác động trực tiếp trên lớp người trẻ và ngành giáo dục. Chính v́ thế mà năm 1996, UNESCO đă đưa ra bản báo cáo về t́nh trạng giáo dục. Các nhà nghiên cứu đă  vạch ra  những xung đột của hoạt động giáo dục trong thế kỷ 21.

-     Thứ nhất, xung đột giữa tính cách toàn cầu hóa và điạ phương đưa đến thử thách là làm cách nào mà học sinh có thể trở thành công dân toàn cầu mà không đánh mất bản sắc của ḿnh.

-    Xung đột giữa nền văn hóa địa phương và văn hóa toàn cầu. Các chuyên gia giáo dục phải nỗ lực bảo tŕ nền văn hóa địa phương trước sự bành trướng của văn hóa toàn cầu.

-     Xung độ ǵữa  nhu cầu  cập nhật hóa những tiến bộ thế giới và ư chí bảo tồn bản sắc dân tộc.Chúng ta cần nhiều nỗ lực để tiếp thu và khai thác những tiến bộ của khoa học, thích nghi được với những hoàn cảnh đột xuất ngày nay  nhưng không đánh mất dân tộc tính.

(Thế giới  ngày nay được tiêu biểu bằng những t́nh cảnh bộc phát, xă hội ngày càng đa diện, phức tạp trái với xă hội ngày trước mang tính cách đơn giản, thuần nhất).

-     Xung độ giữa ư chí tranh đua và sự  quan tâm về nguyên tắc b́nh đẳng. Đây là một thử thách quan trọng  hầu giữ được sự thăng bằng giữa tính cách cạnh tranh của toàn cầu hóa và mối quan tâm duy tŕ sự b́nh đẳng. ( Làm thế nào mà nhà trường là nơi khích lệ những học sinh ưu tú đồng thời vẫn mở rộng cánh cửa cho tất cả tầng lớp xă hội, tất cả tŕnh độ đúng với tinh thần giáo dục đại chúng ).

-    Xung độ  giữa sự bộc phát tột độ của kiến thức và khả năng tiếp thu
     giới hạn của học sinh.

 -  Xung đột cuối cùng nằm giữa giá trị tinh thần và vật chất. Làm sao giữ được sự thăng bằng giữa tâm linh và vật chất. Những  truyền thống, giá trị tâm linh, tín ngưỡng dễ bị xô đẩy bởi một nhịp độ sống ngày càng tất bật khiến cho con người không c̣n điều kiện tư duy.   

Qua chương tŕnh nghiên cứu của UNESCO,  tất cả các nước trên thế giới đều phải lưu tâm đến những bức xúc xă hội có thể gây ảnh hưởng đến tuổi trẻ và giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhiều phương pháp cải tổ phải được đưa ra  ngơ hầu  đào tạo được những người công dân  thích nghi được với môi trường mới.

 Đại đa số quốc gia  trên thế giới không có những khó khăn như Việt Nam v́ ư niệm tự do dân chủ là một giá trị phổ quát, do đó óc sáng tạo của học sinh được phát triển không gặp trở ngại. Khía cạnh nhân văn là một thử thách lớn nhất của họ: làm sao đào tạo được những người công dân biết suy nghĩ, có ư niệm dân tộc và tinh thần nhân loại. 

Riêng về Việt Nam, giáo dục đang lâm vào con đường bế tắc. T́nh trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay suy thoái và tụt hậu nhất trong lịch sử giáo dục từ hồi có thi cử, kể từ năm 1075. Theo phúc tŕnh của Liên Hiệp Quốc năm 1987, Việt Nam là một trong 12 nước dốt và lạc hậu nhất thế giới.

Việt Nam quả là cái nôi của bao nghịch lư.

Việt nam là một nước có nhân lực trẻ đông đảo, dân tộc Việt Nam cần cù hiếu học, thông minh. Tuy nhiên sau ba mươi năm thống nhất, nước Việt Nam đáng lẽ phải có một bước tiến đáng kể so với các nước cùng khu vực.

Nhưng trên thực tế, Việt Nam đang là một trong những quốc gia nghèo, chậm tiến và có nhiều tệ trạng trên thế giớ́. Chương tŕnh học của học sinh Việt Nam nặng hơn chương tŕnh giáo dục của các nước lân cận, học sinh Việt Nam phải bỏ nhiều th́ giờ học hơn học sinh ngoại quốc. Mặc dù phải tốn nhiều th́ giờ hơn các sinh viên ngoại quốc, nhưng theo bản tường tŕnh trong chương tŕnh hội thảo giáo dục được tổ chức tại Hà Nội (3-6-2004 đến 25-9-2004), theo đó, sinh viên Việt Nam có tŕnh độ thấp kém nhất so với các nước cùng khu vực và nh́n chung thanh niên Việt Nam chưa hội đủ tiêu chuẩn hội nhập quốc tế. Điều này phản ảnh được chất lượng giáo dục yếu kém. Theo lời ông đại biểu Nguyễn Đức Dũng: «  Chất lượng giáo dục hiện nay thấp, sinh viên ra trường thiếu sự chủ động, sáng tạo. Việc học bây giờ mang nặng tính cổ điển học thuộc ḷng như vẹt. Chưa kể những chuyện tiêu cực như học hộ, học thuê, thi hộ, thi thuê, gian lận ». Lời phát biểu này đă tŕnh bày một thực trạng  đen tối của ngành giáo dục tại Việt Nam hiện nay.

Nói chung, t́nh trạng khủng hoảng của nền giáo dục Việt Nam hiện đang là mối ưu tư hàng đầu của nhiều người Việt Nam c̣n tâm huyết. Một số giáo sư và thức giả đă liên tiếp lên tiếng báo động và gửi các bản kiến nghị chấn hưng giáo dục lên đảng Cộng Sản nhưng giới cầm quyền vẫn nhắm mắt làm ngơ. 

Tất cả chuyên gia giáo dục đều đồng quan điểm là yếu tố giải trí giữ vai tṛ rất quan trọng cho tuổi trẻ trong tiến tŕnh thăng triển con người. Nhưng hầu như tất cả lớp người trẻ ở Việt nam đă biến thành những người máy chỉ biết học thuộc ḷng. Nhiều người đă không bao giờ biết đến  niềm  vui học hỏi, họ cố nhồi nhét trong âu lo những kiến thức lỗi thời, tẻ nhạt. Trong khi chủ nghĩa Marx đang bị mai táng tại hầu hết các nơi trên thế giới, do nhu cầu bảo vệ ngôi vị độc tôn của ḿnh, nhà cầm quyền Cộng Sản vẫn cưỡng bách học sinh thấm nhuần tư tưởng phản tiến hóa này. Một trong những điều kiện tiên quyết trong việc đào tạo những trí tuệ của ngày mai là việc truyền dạy cho học sinh khả năng suy nghĩ, tư duy sáng tạo. Đây là điều không thể có được trong một chế độ độc tài. 

Nội dung giáo dục phải là tấm gương trung thực của đời sống xă hội mới có thể có tính cách thuyết phục. Nhưng hơn bao giờ hết những băng hoại xă hội ở Việt Nam đang ở mức độ trầm trọng  khiến cho học sinh Việt Nam mất cả lư tưởng tuổi trẻ.

Cộng sản là một chế độ vô thần, do đó những giá trị truyền thống của người dân Việt không c̣n được coi trọng. Thêm nữa nghèo đói là một thực tế dai dẳng của đaị đa số người dân. Nạn tham nhũng tràn lan từ giới lănh đạo trở xuống. Học đường không c̣n là nơi truyền giảng lễ nghĩa. Nhiều giáo viên đă đánh mất thiên chức giảng dạy của ḿnh để trở thành những người «thợ dạy» qua những áp phe dạy thêm ép để kiếm tiền. Người trẻ Việt Nam trong một bối cảnh xă hội nhiễu nhương, không khuôn mẫu, trở nên những người tiêu cực. Nhiều người bất măn, chán nản lao ḿnh vào cuộc sống sa đọa, thiêu hủy tương lai. Hiện nay, tệ nạn măi dâm, du đăng, nghiện ngập, nạn dịch AIDS, nạn tự tử, phá thai nơi người trẻ ngày càng gia tăng tại Việt Nam. (Vietnam Investment Review, 11-09-2000).

Một số khác may mắn vẫn tiếp tục đến trường, mục đích của nhiều người trẻ là tiến thân qua sự học hơn là ôm ấp hoài băo kiến tạo quê hương. Phương pháp giáo dục lỗi thời cùng với đường lối chánh trị độc tài đảng trị đă đưa đến nền kinh tế kiệt quệ, những người trẻ tốt nghiệp dễ dàng bị thất vọng hụt hẫng trước tệ nạn thất nghiệp tại Việt Nam..

Trong tinh thần này, ngành giáo dục Việt Nam sẽ luôn phải đương đầu với hai thử thách:

-       Thử thách về phát triển khoa học, kỹ thuật: nâng cao tŕnh độ học sinh, phát huy khả năng sáng tạo, tinh thần tổng hợp, năng lực thực hành.

-        Thử thách  về khả năng phát triển ư niệm dân tộc, t́nh nhân loại nơi lớp người trẻ.  

Nhưng khi nào Việt Nam vẫn dưới ách độc tài, khi nào người lănh đạo vẫn đặt quyền lợi bè phái trên  tiền đồ dân tộc; khi nào những chữ Tự Do, Dân Chủ vẫn chỉ là những khái niệm trừu tượng nơi người dân chứ không phải là một thực tế hiển nhiên, ngành giáo dục Việt Nam sẽ không bao giờ làm tṛn sứ mệnh của ḿnh. Việt Nam vẫn sẽ là một trong những nước lạc hậu nhất, và trí tuệ của bao thế hệ đi lên vẫn bị giam hăm, thui chột bởi những tham vọng  không đáy và đầu óc hạn hẹp của  nhà cầm quyền.

Bác Sĩ Cấn thị Bích Ngọc


Tài liệu tham khảo

 - Gilles Pronovost et Chantal Roger – Les valeurs des Jeunes, Presses de l’Université du Québec, 2004
- Charles E. Caouelle – Éduquer pour la vie, Les Éditions Écosociété, Montréal 1992
- Valérie Marange – Les Jeunes, Le Monde- Éditions, 1995
- Collectif sous la direction de Louise Bélair , Éducation en 2025, Centre franco-ontarien de ressources pédagogiques, Canada 1999
- JJ Rousseau, Emile ou  de l’éducation, Classiques Garner Multimédia, Paris 1999

                                                                                          Tro Ve Dau Trang