Bản Tin LỰC LƯỢNG QUỐC DÂN VIỆT NAM - Số 2

10/3/2007

Trở Về Trang Chính                                                                                   Bản Tin Kỳ Trước >

 1
   

Lá thư Ban Biên Tập

 

Tự Do không tự nhiên mà có !

 

            Cuối tháng Giêng 2007, Nguyễn Tấn Dững, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam bệ kiến đức Giáo Hoàng tại La-Mă.  Cuộc yết kiến đă được sắp xếp, đ́nh hoăn rồi lại được thực hiện như bất cứ tṛ chơi cút bắt nào với người cộng sản.  Bằng vào cuộc gặp gỡ có vẻ như nhằm sưởi ấm lại giao dịch từ lâu lạnh nhạt giữa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và nhà nước Cộng Sản Việt Nam, người ta hi vọng rằng Hà Nội có thể tỏ dấu muốn thay đổi chính sách đối xử với các thành phần tôn giáo dân tộc nơi quốc nội.
 

            Đáp lại thiện chí khoan dung, ôn hoà của Toà Thánh, đúng dịp Tết Đinh Hợi vừa qua, Cộng Sản Việt Nam đă ra tay hành động thô bạo tại Huế bằng cách bao vây, xâm nhập toà Tổng Giám Mục sở tại, lục soát tư thất và tài sản của các Cha Nguyễn Văn Lư, Phan Văn Lợi, bắt giữ, cô lập hai vị linh mục này, tịch thu nhiều tài sản riêng cùng lúc với sự bắt bớ nhiều nhân vật tranh đấu cho Dân Chủ ở nhiều nơi khác.
 

            Chúng ta hẳn c̣n nhớ ít năm trước nữa, thủ tướng CSVN đương thời đă mời và gặp Hoà Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang tại Bắc Bộ Phủ, Hà Nội, hứa hẹn một giai đoạn mới, cởi mở, hoà giải cùng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất.  Sau đó, trở về chùa, các Giáo Phẩm của Giáo Hội chẳng bao giờ được thấy sự thay đổi cung cách ứng xử của các toán Công An CS.  Người CS nói một cách và làm một nẻo !
 

            Thêm vài tin tức nữa để ta cùng suy nghiệm : Ít hôm trước đây, trên Nhân Dân nhật báo tại Bắc Kinh, thủ tướng Trung Cộng Ôn Gia Bảo đă đứng tên một bài chính luận quan trọng, sửa soạn lư thuyết cho Đại hội 17 của đảng CS Trung Hoa mùa hè 2007 này.  Bác tất cả các luận thuyết về nhu cầu phải có thay đổi chính trị mạnh bạo đi song đôi t́nh trạng tiền tiến của nền Xă hội chủ nghĩa (XHCN) đặc tính Trung Hoa, người đệ nhị lănh tụ Trung Cộng này đề xướng rằng con đường đi tới XHCN cần kéo dài cả trăm năm và hệ thống XHCN không có ǵ trái ngược với Dân Chủ.  XHCN hoàn thiện sẽ đạt các tiêu chuẩn của hệ thống Dân Chủ chân chính và hệ thống pháp lư phát triển cao độ.
 

            Đông và Tây chưa dễ gặp được nhau.  Lư thuyết về sự biến đổi trong hoà b́nh (hay c̣n gọi là diễn tiến hoà b́nh) có vẻ như gặp trở ngại ở phương Đông.  Con đường đi tới Dân Chủ với người Trung Hoa c̣n lắm thác, nhiều ghềnh.  Chúng ta sẽ không lấy làm lạ mai này, lữ học tṛ của Bắc quốc CS tại vườn hoa Ba Đ́nh, ôm chắc chiếc phao lư thuyết mới, sẽ nhắc lại rằng "giai đoạn quá độ lên XHCN sẽ kéo dài một thế kỷ".  Đảng CSVN sẽ hiên ngang trên con đường XHCN hàng trăm năm nữa !

            Chúng ta đă ghi nhận thành quả vô tích sự của Đại Hội 10 CSVN.  Chúng ta cững sẽ dễ dàng tiên đoán kết quả cuộc bầu cử Quốc Hội VN đầu hè này.  Gia nhập WTO chỉ mang thêm lợi nhuận đến cho bè lữ cán bộ CS hủ hoá và tham những.  Các đầu tư và trợ cấp của Quốc Tế sẽ làm giầu thêm cho các chủ nhân ông tư bản đỏ.  Những kẻ thủ lợi trong cuộc cải tiến kinh tế tại VN cững chỉ là con em của tập đoàn giai cấp mới.  Chênh lệch giầu nghèo và bất công xă hội sẽ gia tăng nhiều nữa.  Xă hội VN tiếp tục dậm chân trong bế tắc mọi mặt nhất là trên lănh vực xă hội, giáo dục, đạo đức và tiếp tục chậm lụt ở mọi địa hạt phát triển.

 

            Ông Boris Yeltsin, người đánh đổ đảng Công Sản Đông Âu tại Nga đă chí lư khi chủ trương rằng "Cộng sản không thể sửa đổi, chúng chỉ đáng bị thay thế". Đảng CSVN dă bán nước và đang buôn dân.  Họ đă phạm quá nhiều tội ác, thối nát và hư hỏng đến cùng cực.  Trên sáu chục năm rồi !T́nh trạng này không thể để kéo dài măi.  Người Việt Nam phải lo tự cứu lấy ḿnh, dân thân vào cuộc đấu tranh cho dân tộc ḿnh. Tự do không tự nhiên mà có !


                                                            Đầu Xuân Đinh Hợi (2007)
Sinh họat yểm trợ Cộng Đồng

Từ sau 30 tháng tư năm 75, để tỵ nạn cộng sản, hàng hàng lớp lớp người Việt Nam đă bỏ nước ra đi t́m cuộc sống tự do ở khắp nơi trên thế giới.  Xa quê hương nhưng không quên nguồn cội, nên dù ở đâu, hay trong bất cứ thời điểm nào, người Việt chúng ta vẫn t́m đến nhau, qua t́nh dân tộc và nghĩa đồng bào, để cùng chia xẻ những nỗi ưu tư, bất hạnh của kiếp người lưu vong, t́m nơi dung thân và chờ đợi ngày về.

Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt Nam tỵ nạn đă lên đến con số hơn 1.3 trịêu người. Với bản chất thông minh, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, và giản dị, chúng ta đă được các cộng đồng bạn qúy mến và nể v́. Thêm vào đó, những họat động tích cực đa diện đă khiến cộng đồng chúng ta càng ngày càng phát triển mạnh trên mọi phương diện.

Sinh họat cộng đồng là biểu tượng cho sức mạnh tập thể của một sắc dân trên quốc gia định cư. Do đó các sinh họat của chúng ta, ng̣ai những họat động đ̣i hỏi quyền lợi, tham gia vào những sinh họat với các cộng đồng bạn, đă bao gồm việc t́m một thế đứng trong xă hội. Qua hơn 30 năm tha hương, cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ, dù là một cộng đồng trẻ trung so với nhiều cộng đồng tỵ nạn hay di dân khác, nhưng đă đạt nhiều thành quả trong các lănh vực, từ giáo
dục, kinh tế, đến mặt văn hóa và chính trị. 

Cộng đồng người Việt ở hải ngọai đóng một vai tṛ then chốt trong việc yểm trợ các phong trào đấu tranh cho dân chủ tại quốc nội, v́ thế hễ cộng đồng càng lớn mạnh, th́ càng hữu hiệu trong việc yểm trợ công cuộc đấu tranh chung. Với quan điểm này, Lực Lượng Quốc Dân Việt Nam, dù chủ trương không xen vào nội bộ của cộng đồng, nhưng vẫn luôn luôn chú trọng đến việc xây dựng cộng đồng ngơ hầu nâng sức mạnh về chính trị, kinh tế của chúng ta lên ngang với những cộng đồng lớn đă được thiết lập lâu năm ở Hoa Kỳ như cộng đồng Do Thái và Cuba.

Trong tinh thần ấy, Tiến Sĩ Hà Văn Hải, một thành viên của Lực Lượng Quốc Dân Việt Nam, đă liên Lạc với Ṭa Bạch Ốc để giúp phái đ̣an đại diện các cộng đồng về tŕnh kiến nghị đến Tổng Thống George W. Bush trước khi ông đến VN tham dự Hội Nghi WTO. Đây là lần đầu tiên Hội Dồng An Ninh Quốc Gia, một cơ quan tối cao tại Ṭa Bạch Ốc đón tiếp đại diện Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.  Đúng 10 giờ sáng, ngày 28 tháng 10 năm 2006,  một phái đ̣an gồm 27 thành viên thuộc nhiều tiểu bang tại Hoa kỳ đă được bà Holly Morrow, Thứ Trưởng Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (U.S National Security Council) tiếp.  Tưởng cũng nên nhắc là Tiến Sĩ Henry Kissinger và bà Bộ Trưởng Ngọai Giao Hoa Kỳ Rice đă từng giữ chức Cố Vấn cho Hội Đồng này. Sau hơn một giờ thảo luận, bà Holly Morrow đă nhận thỉnh nguyện thư của Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ để đệ tŕnh lên Tổng Thống. Trước khi kết thúc buổi họp Tiến Sĩ Hà Văn Hải cũng đă trao bằng lưu niệm đến bà Morrow để tỏ sự biết ơn của của chúng ta trứơc việc Chính Phủ Hoa Kỳ đă quan tâm đến những nhà đấu tranh cho dân chủ tại trong nước.

Cũng trong buổi chiều cùng ngày, tại Quốc Hội Hoa Kỳ, Chủ Tịch Thượng Viện là Bác Sĩ William Frist đă đề cử ông Stephen G. Rademarker, Đệ Nhất Tham Vụ Kiêm Giám Đốc An Ninh Sự Vụ đă tiếp đón phái Đ̣an Đại Diện cộng đồng Việt Nam từ khắp nơi về. Trong dịp này Đại Diện Cộng Đồng cũng tŕnh thỉnh nguyện thư lên Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ về những nguyện vọng của Người Việt Nam tại Hoa Kỳ về vấn  đề Nhân Quyền và Tự Do cho dân tộc. Ông Khưu Văn Phát, cựu Đại Tá Không Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng đă tŕnh bày về trường hợp của Chiến Sĩ Lư Tống và yêu Cầu Thượng Viện can thiệp kịp thời để Bộ Ngọai Giao áp lực không gỉai giao Lư Tống về Việt Nam. Buổi họp đă kết thúc t
ốt đẹp sau khi phái đ̣an chụp h́nh lưu niệm.

 
Đa Đảng Nhất Nguyên Thế Cờ của CSVN.

Nhất Thanh (Sydney)


Đa Nguyên Đa Đảng, đây chính là một thể chế và con đường mà tuyệt đại đa sô người VN chân chính phi CS đều muốn đi đến và thực thi, nên gần đây nhất là vào thế kỷ của toàn cầu dân chủ hoá, VN và những phong trào dân chủ đang nở rộ như những cánh én đang kêu gọi những cánh chim Lạc Hồng cất lên tiếng nói lương tâm. Như đă thấy những phong trào tẩy chay quốc hội CS và những ǵ không phải do "dân chủ thiết lập" như 118 nhà đấu tranh cùng nhóm 8406, đồng thời cùng có một Đảng Dân Chủ Bách Việt do một nhà doanh nghiệp trẻ Nguyễn Phương Anh thành lập để đ̣i công bằng trong xă hội VN, và cùng như đă thấy trong cái xu hướng đa đảng cùng có một đảng Dân Chủ XXI với một đảng viên phản tỉnh là ông Trần Khuê làm "phó chủ tịch" làm một trong những vai tṛ "lái con thuyền Đảng Dân Chủ 21" với cái tuyên ngôn Hoà Giải cùng lời kêu gọi "nhân dân VN hăy tuân thủ theo luật pháp của XHCN".

 

Trên thực tế trong và ngoài nước, ai cùng rơ Luật Pháp cùng Hiến Pháp XHCN chỉ thực chất là cái để lừa gạt quốc tế và trói tay người tranh đấu nói riêng và người VN nói chung, khi kèm theo sau cuối mỗi điều trong Hiến Pháp 1992 XHCN đều là nhấn mạnh người dân phải tuân thủ luật pháp cùng như điều 69 trong hiến pháp là "tất cả đều phải làm theo quy định luật pháp Nhà Nước" cùng như điều 84 " Quốc Hội VC quyết định Hiến Pháp và Quyết định sự Trưng cầu dân ư" , đây đă nói lên tất cả đều do Quốc Hội VC quyết định và người dân chỉ được "van xin" và "chờ đợi quyết định" , hơn bao giờ hết khi điều 4 hiến pháp nêu rơ "ĐCS là lực lượng lănh đạo Nhà Nước" và Nhà Nước đây cùng là Quốc Hội, vậy cái Quyết Định của Quốc Hội VC là dựa theo quyết định của Đảng Quyền CS, cuối cùng là bổn cù soạn lại và đảng CSVN vẫn toàn quyền quyết định bất chấp dân chủ, vậy đấu tranh dưới Hiến Pháp là đấu tranh dưới quy định và sự quyết định của ĐCS như trong Nghị Định 38 và 56 của CSVN, chứ không phải là đ̣i hỏi "phải là dân chủ tự quyết".

 

Trở lại với vần đề "đa nguyên đa đảng", hơn ai hết CSVN biết rơ đây là điều không thể tránh v́ cái gương của Liên Xô và Đông Âu đă cho CSVN thấy rơ cái sức mạnh của dân chủ, nên CSVN hiện nay đang theo cái nước cờ "Đa Đảng Nhất Nguyên", bằng chứng những dự án cho Đảng Viên Làm Kinh Tế, tạo cơ hội cho Việt Kiều làm Đại Biểu Quốc Hội, nhưng cái danh sách Đại Biểu cùng như sự Quyết Định là do CSVN quyết định và như khoản (b) điều 4 Hiến Pháp là " mọi tổ chức của Đảng CS hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp cùng pháp luật", nói cách khác là ĐCS là trên hết "tất cả CỦA Đảng phải theo luật Đảng". Trong cái thế Đa Đảng CỦA ĐảngCS, th́ CSVN sẽ cùng cho nhiều "tay sai" lập nhiều Đảng khác nhau NHƯNG đồng thời cùng sẽ cố t́nh để ḷi cái đuôi XHCN trước dư luận.

 

Nh́n vào sự kiện vừa qua, nếu nói rằng Ông Trần Khuê không ư thức về những lời hoà giải có tính cách Nghị Quyết 36 cùng những lời tung hô bóng ma Hồ Chí Minh th́ khác nào nói ông Trần Khuê là thuộc thành phần "Trán Lớn Đầu To nhưng Trí Tệ" nhưng nếu nói ông Trần Khuê là một trí thức và ư thức mà lại lên "paltalk" diễn giải và vu khống cho "phong trào 118 là danh sách ảo" th́ rơ ràng là CỐ Ư để cái đuồi XHCN ḷi ra cho thiên hạ nh́n. Sau đó khi bị dư luận lên án chưa hết th́ đột nhiên Trần Khuê được thành lập làm phó chủ tịch đảng DC21 v.v th́ đây đă cho chúng ta thấy cái tṛ chơi của CSVN như đă làm với các những nhà đấu tranh khác đó là âm mưu "Len Lỏi Phá Hoại, Cô Lập và Đàn Áp" , v́ thứ nhất khi để cái đuôi VC ḷi ra trong khi mặc áo đấu tranh th́ đây đă khiến ít nhiều dư luận nghi ngờ và cảnh giác với những phong trào đấu tranh, và nếu nhiều cái "Đa Đảng Ḷi Đuôi" th́ cái dư luận sẽ không c̣n tin vào cái h́nh tượng của những nhà đấu tranh như Lm Nguyễn văn Lư đă nói rơ trong câu nói "CSVN rất thích nhiều tuyên ngôn lá cải", và khi dân VN cùng dư luận trong và ngoài không tin vậy th́ những người đấu tranh chân chính trở nên bị cô lập để rồi cuối cùng là sự đàn áp phi nhân tính của ĐCS. C̣n lại chăng chỉ là những cái Đa Đảng chịu "tuân thủ theo Hiến Pháp của XHCN" vào quốc hội để khoác áo thụng vái nhau, cùng như trách nhiệm của "Đa Đảng Ḷi Đuôi" chỉ thực chất là để lừa gạt dư luận quốc tế là VN đă có đa đảng, mặt khác là kêu gọi và ru ngủ người VN "tuân thủ và đoàn kết làm nô lệ Van Xin theo quy định của ĐCS".

 

Trước những cái âm mưu đen tối "Len Lơi, Phá Hoại, Cô Lập và đàn Áp" , cái để dân VN thực sự đi đến cái Đa Nguyên chân chính không ǵ bằng những sư thật đúng và sai được phơi bày, v́ khi có sự thật người dân sẽ ư thức được ai là nằm vùng và ai là đấu tranh chân chính, để rồi trong cái ư thức dân chủ đầy sự thật chính bản thân người dân VN cùng dư luận sẽ tự nhiên biết được những tiếng nói lương tâm và sự ủng hộ nên đặt vào đâu. Do đó, những giới truyền thông trong và ngoài, những nhà trí thức hay b́nh dân, khi ai biết sự thật hăy cùng nhau cất lên tiếng nói đừng bao giờ sợ nói sự thật là mất đoàn kết, v́ vốn dĩ nói sự thật để cảnh giác dư luận cùng như giúp người VN cùng dư luận thanh lọc sự đúng và sai t́m cái đáp số hợp lư nhất để đoàn kết và ủng hộ. Trên thực tế người chân chính sẽ luôn cám ơn những sự thật trong lư lẽ và bằng chứng và ngược lại chỉ có những tay âm mưu lừa gạt ai đó mới chụp mù cho những sự thật nói lên sai trái là mất đoàn kết hầu che giấu cho những hành động đen tối. 

 

Việt Nam: Vấn nạn nô lệ
Hà Văn Hải


Để trở thành một cường quốc với nền văn hoá và kinh tế không ngừng phát triển, một quốc gia phải có một hệ thống giáo dục tân tiến, cuộc sống của người dân phải được ổn định và được luật pháp bảo vệ, để mọi người có cơ hội gia tăng sản xuất tạo nên một nền kinh tế ngày càng phồn thịnh: Dân giầu nước mạnh.

 

Chúng ta hăy nh́n vào một số quốc gia tiến bộ trên thế giới để suy ngẫm như Nhật Bản, Singapore tại Á Châu, Do Thái tại Trung Đông và Hoa Kỳ tại Tây Phương. Sở dĩ các quốc gia này được một vị thế như ngày nay là v́ tất cả chính quyền của họ đều xem việc đào tạo thế hệ thanh thiếu niên là một quốc sách. Họ không những đă nỗ lực tạo ra nhiều điều kiện thuận tiện để tất cả trẻ con có cơ hội cắp sách đến trường, mà c̣n có chính sách cưỡng bách giáo dục.


Hoa Kỳ có chương tŕnh "No Child Left Behind". Tương tự, miền Nam nước Việt Nam ngày xưa cững đă chủ trương "học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau". Nói chung, các nhà lănh đạo biết quan tâm đến tương lai đất nước, đều hiểu rằng những tài nguyên qúy giá nhất của đất nước của chính là lớp người trẻ, theo đúng tinh thần "thanh niên là rường cột của quốc gia". Phát triển chất xám nơi lớp thanh thiếu niên đồng nghĩa với đầu tư cho một nền kinh tế giàu mạnh, và đào tạo một lớp thanh niên thấu hiểu được ư nghĩa câu "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" đồng nghĩa với xây dựng nền tảng cho một quốc gia tự lực, tự cường và một dân tộc có tinh thần tự quyết.
 
Thật là đau buồn cho dân tộc Việt Nam chúng ta, sau tháng tư năm 1975, rất nhiều thanh niên, thiếu nữ đă bị đẩy ra khỏi khuôn viên nhà trường, bị bó buộc gia nhập vào các đoàn thanh niên thành phố đi đánh Tư Sản Mại Bản, phải kiểm kê tài sản của ngay chính người thân ḿnh để xă hội có một bộ mặt mới: Mọi người đều NGHÈO bằng nhau. Sau đó, họ bị đưa vào đoàn thanh niên Thủy Lợi, sống đời sống tập thể và lao động rất nhọc nhằn nơi các vùng quê hoang dă.

Vào năm 1979, một số đông thanh niên thuộc chế độ cũ, lớp bị đẩy đến những vùng “kinh tế mới” để chết trong rừng thiêng nước độc, lớp bị đưa vào các đoàn thanh niên Xung Phong làm bia đỡ đạn trong chiến trường Căm Bu Chia. Qua những hành động này, Cộng Sản Việt Nam đă giết đi một lớp thanh niên đă biết thế nào là không khí tự do, dân chủ của Việt Nam Cộng Ḥa trước năm 1975. Ít ra, tầng lớp người trẻ này cũng có tinh thần cầu tiến, biết suy nghĩ phải trái và chưa học cách lừa lọc và gian dối như chế độ Cộng Sản mong muốn. Sau khi đă đẩy đất nước đến tận cùng chỗ nghèo đói, tụt hậu, Cộng Sản Việt Nam đă tạo ra một lớp thanh niên nghèo khổ đến độ họ phải dùng hết trí lực xoay sở sao cho cuộc sống đỡ chật vật. Nghèo khổ đến độ họ không có th́ giờ nhận ra ḿnh đă bị tước hết những quyền căn bản của con người và đang sống một kiếp đời nô lệ. Nhưng thảm trạng này cũng chưa đủ, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam c̣n mất hết lương tri, xuất cảng thế hệ thanh niên, lớp nô lệ mới này (tuổi từ 17 đến 35) ra ngoại quốc để làm giầu cho bản thân.

Chính những tờ báo quốc doanh khoe khoang Cộng Sản Việt Nam sẽ  xuất khẩu khoảng 80,000 nhân công trẻ ra ngoại quốc trong năm 2007( tuổi từ 18-30). Nếu chúng ta nhẩm tính từ năm 1975 đến 1985, CSVN đă xuất khẩu lao nô đi làm công cho Nga Sô, Tiệp Khắc để trả nợ chiến tranh. Trung b́nh một năm có khoảng 10 ngàn người bị gửi đi ngoại quốc lao động và trong ṿng 10 năm con số này đă lên đến hơn 100 ngàn. Nhưng từ năm 1985 đến bây giờ, con số lao nô Việt Nam trên thế giới đă nhanh chóng nhảy vọt, lên đến trên dưới một triệu thanh niên, thiếu nữ (trung b́nh 50,000 một năm).  

Bên cạnh những lao nô, tệ trạng nô lệ t́nh dục đă và đang là một thảm cảnh của hàng trăm ngàn thiếu nữ VN, trong đó nạn nhân là nhiều em gái chưa đầy 13 tuổi. Trong các động măi dâm ở Cam bốt, có những em Việt Nam tuổi chỉ mới lên 5. Vào năm 2003, Cam Bốt đă gởi về Việt Nam hơn 60,000 cô gái làng chơi nhiễm bệnh AIDS. Ngoài ra, số người mắc bệnh phong t́nh ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Chúng ta hăy thử làm một bài tính, nếu t́nh trạng này cứ tiếp diễn, tương lai của nước Việt Nam sẽ đi về đâu trong thập niên tới?

Đất nước Việt Nam có cần sản xuất nô lệ không? Câu trả lời thật dễ dàng, chúng ta chỉ cần nh́n vào mức thu nhập của VN:  Số tiền mà người Việt tỵ nạn gởi về nước khoảng 4 tỉ đô la (thống kê từ nhà cầm quyền Hà Nội), tiền bán dầu thô là 8 tỉ (World Bank), tiền thu được qua việc xuất cảng hải sản và nông sản (Việt Nam được xem là nước xuất cảng gạo đứng hàng thứ 3 trên thế giới) độ 2 tỉ đô la. Với số tiền 14 tỉ đô la này, (chúng ta chưa kể những khoảng tiền viện trợ từ các quốc gia tự do khác để giảm nghèo xóa đói), nếu chia đều cho 80 triệu dân Việt Nam th́ mỗi đầu người, kể cả trẻ em và người già, được 200 đô la một năm chưa kể đến tiền lương của người Việt Nam c̣n đi làm được (mức lương trung b́nh của một người được ước tính là 600 đô la một năm). Nhưng chua xót thay, những số tiền này đă được đưa vào túi của những nhà lănh đạo của Đỉnh Cao Trí Tuệ. Và  phong trào buôn bán nô lệ, mối nhục của quốc gia, vẫn c̣n bị Đảng Cộng Sản triệt để khai thác hầu phục vụ cho một tầng lớp tư bản đỏ, một giai cấp mới xuất hiện từ sau năm 1975.

Chúng ta đă thấy những tấm quảng cáo buôn bán các cô gái Việt Nam làm Nô Lệ T́nh Dục ở các xa lộ bên Đài Loan, tại những quán cà phê Mă Lai, thương xá Singapore. Song song vào đó, con số những lao nô ở Nga, Tiệp Khắc và Đức, Đại Hàn…ngày càng gia tăng.  Với đà phát triển này, chắc chắn chúng ta sẽ có cơ hội tiếp cận với lớp lao nô Việt Nam này tại ngay xă hội Âu Mỹ chúng ta đang sống. Họ là những người Việt Nam ra ngoại quốc bán sức lao động để mong thoát khỏi cảnh khốn cùng, nơi xứ người họ phải đổ mồ hôi và nước mắt để kiếm từng đồng trả nợ cho các cơ quan dịch vụ của nhà nước mà những cai thầu là cán bộ của Cộng Sản Việt Nam. 

Nước Việt Nam của chúng ta đă mất đi cơ hội bằng vàng để có thể là một trong những nước thịnh vượng nhất ở vùng Đông Nam Á. Nếu HCM và đảng CSVN không xâm chiếm miền Nam cho ư do nhuộm đỏ thế giới, vua Quang Trung đừng bị bạo bệnh và sống thêm được 10 năm, chắc chắn Sài G̣n sẽ vượt trỗi hơn cả Singapore để xứng danh là Ḥn Ngọc Viễn Đông. Và như thế chúng ta sẽ khỏi ngậm ngùi khi nghe ông Lư Quang Diệu tuyên bố: Việt Nam phải mất 20 năm nữa mới bằng Singapore ngày hôm nay. 

Với sự tham lam vô trách nhiệm của nhà cầm quyền Cộng Sản, thảm trạng  nô lệ tại Việt Nam sẽ không thể chấm dứt mà trái lại, quốc nạn này sẽ ngày càng trầm trọng. Chỉ khi nào người dân Việt Nam trong nước không c̣n sợ hăi để đồng lọat đứng lên đ̣i hỏi quyền làm chủ thực sự của ḿnh, và khối người Việt tỵ nạn tại hải ngoại không c̣n bị phân hóa, mà kết hợp thành một khối để giải  thể đảng cộng sản th́ đất nước Việt Nam mới có hy vọng thoát ra khỏi cái nhục chậm tiến hiện tại.

Đă đến lúc toàn thể người Việt tại quốc nội cũng như hải ngoại, tay trong tay, người nối người trong tinh thần của Đại Hội Diên Hồng, vùng lên giành lại quyền làm người, quyền khôi phục lại nhân phẩm, quyền được góp phần ḿnh trong việc xây dựng đất nước, và quyền được hy sinh để bảo vệ lănh thổ và lănh hải.
 

Các nhà sư Khmer Nam Bộ biểu t́nh trước sứ quán Việt Nam 
Nhân chuyến thăm Cambodia của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khoảng trên 100 vị sư người Khmer Krom ở thủ đô Phnom Penh tổ chức biểu tình vào sáng ngày 27 tháng 2 năm 2007 gần Đại sứ quán Việt Nam.

Một nhà sư đang tham gia biểu tình cho biết mục đích của cuộc biểu tình là để phản đối chính quyền tỉnh Sóc Trăng bắt 9 vị sư Khmer hoàn tục vào ngày thứ Năm và thứ Bảy tuần trước, trong đó có 4 vị đang bị giam ở trong tù.

Đoàn biểu tình dự định đến trước Đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Phnom Penh, nhưng chưa đến nới thì bị quân cảnh chặn lại, do đó đoàn biểu tình phải dừng lại trên đại lộ Monivong cách Đại sứ quán Việt Nam khoảng 200 mét.

Có khoảng trên 300 lực lượng quân cảnh được huy động đến ngăn chặn đoàn biểu tình và bảo vệ Đại sứ quán Việt Nam. Có một số quân cảnh dùng lời lẽ thô tục để chửa cách vị sư, đây là hình ảnh hiếm thấy trong một quốc gia phật giáo. Và các vị quân cảnh này còn nói rằng các vị sư đang phá hoại tình hữu nghĩ giữa 2 nước Việt Nam - Cambodia.

Đến gần 11 giờ trưa có một người đàn ông mặt thường phục nói chưa thành thạo tiếng Khmer, các nhân chứng cho rằng ông ta là người Việt, vì có nghe ông ta chửi bằng tiếng Việt, đến ôm cổ một vị sư để giành lấy biểu ngữ. Có xô xát nhẹ xải ra giữa người đàn ông này và các vị sư, nhưng không gây thương tích cho cả 2 phía.

Khoảng trên 100 vị sư người Khmer Krom ở thủ đô Phnom Penh tổ chức biểu tình vào sáng ngày 27 tháng 2 năm 2007 gần Đại sứ quán Việt Nam, nhân chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Photo Nguyen Binh/RFA

Đến hơn 12 giờ trưa, thì đoàn biểu tình giải tán. Cao ủy nhân quyền của Liên hiệp quốc tại thủ đô Phnom Penh đưa các vị sư này về một ngôi chùa ở ngoại ô Phnom Penh để phỏng vấn.

Được biết vào hôm Chủ Nhật vừa qua, đảng đối lập Sam Rainsy của Cambodia cũng đưa ra thông cáo báo chí, trong đó tố cáo chính phủ Việt Nam vi phạn nhân quyền đối với người Khmer đang sinh sống ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Phát ngôn viên đảng Sam Rainsy, bà Mou Sok Hour, người gốc miền Tây Nam bộ nói với báo chí rằng thông cáo vừa đưa ra của đảng Sam Rainsy sẽ không làm liên lụy đến người Việt đang sinh sống ở Cambodia, mà chủ yếu đòi chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền đối với người Khmer ở Việt Nam.

Bà cho rằng đảng Sam Rainsy rất quan tâm đến người Khmer hiện đang sinh sống ở miền Nam Việt Nam, vì họ cũng là người Cambodia, và là nạn nhân của hành vi vi phạm nhân quyền của chính phủ Việt Nam.

Đại sứ quán Việt Nam, sau nhiều lần né tránh với báo chí, vào ngày thứ Hai vừa qua, ông Nguyễn Sơn Thủy, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam nói với nhật báo tiếng Anh The Cambodia Daily rằng chính phủ Việt Nam không bắt buột các vị sư Khmer hoàn tục. Ông cho rằng căng thẳng xảy ra ở Sóc Trăng vừa qua chỉ là sự hiểu lầm giữa chính quyền địa phương và các vị sư Khmer.

Kẻ Ăn Ốc, Người Đổ Vỏ 

Luận về việc Cứu Trợ Nạn Nhân các loại ở Việt Nam

 

Đỗ Văn Phúc

 

Bên cạnh những sự kiện chính trị nóng hổi như sự ra đời các đoàn thể, đảng phái tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền ở Việt Nam, vấn đề cứu trợ nạn nhân các thành phần tại Việt Nam cững là một đề tài vô cùng tế nhị và gây tranh luận lâu dài mà phía nào cững đưa ra những luận cứ vững chắc, hợp t́nh để biện minh cho lập trường của ḿnh.
 

Tệ nạn xă hội, thiên tai (băo lụt, hạn hán, sóng thần) th́ thời nào cững có. Từ xă hội nghèo đói cho đến xă hội văn minh giàu có, không ai dám nhận là đă xoá hết các tệ nạn đă đưa đẩy một tỷ lệ dân chúng lâm vào cách hoàn cảnh đáng thương. Ở Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Âu, cững có hàng trăm ngàn người không nhà, trẻ em khuyết tật, người già bị bỏ rơi, bệnh nhân các nan y không phương cứu chữa. Đó là những người hàng ngày sống trông chờ vào ḷng nhân ái của đồng bào, đồng chủng.

 

Người ta nói "Chỉ có cầm thú mới quay lưng trước khổ đau của đồng loại." Nói thế cững chưa đủ, v́ có nhiều loại thú cững chẳng hề bỏ rơi đồng loại khi nguy biến. Đó là nói về phạm trù đạo đức mà tổ tiên chúng đă từng giáo dục qua những câu ca dao rất quen thuộc:

 

Nhiểu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng
Thấy người hoạn nạn th́ thương
Thấy người tàn tật lại càng thương hơn

hoặc 

Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
 

Truyền thống dân tộc Việt Nam đă bao đời chứng minh t́nh nghĩa đùm bọc nhau trong bao biến cố thăng trầm, qua bao tai biến thiên nhiên. Đó là việc hiển nhiên, không chối căi và cũng không thể nại ra lư do để bài bác.

Tuy nhiên, chúng ta không xét vấn đề hời hợt bên ngoài mà không t́m hiểu nguyên nhân sâu xa của những tệ nạn. Có như thế, chúng ta mới t́m được cách giải quyết tận gốc rễ để giảm thiểu những nỗi khổ đau của đồng bào, đồng loại một cách có hiệu quả.

Đó là chúng tôi muốn đề cập đến phạm trù chính trị mà hiện những người Việt yêu nước đang phải dương đầu để giành lại quyền sống cho người dân Việt Nam tại quốc nội.

Ngày xưa, trước năm 1975, tuy bị chi phối bởi chiến tranh dai dẳng, tàn khốc, chính phủ VNCH cũng đă có những chương tŕnh cải tạo xă hội. Ba mục tiêu chiến lược mà cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đề ra sau khi đắc cử là:

“Giải quyết Chiến tranh, Văn hồi Hoà b́nh và Cải tạo Xă hội.”

Khó mà bàn luận về thành quả của các mục tiêu này, v́ chính TT Thiệu và nội các của ông đă bị chi phối bởi nhiều vấn đề rất phức tạp, khó khăn của chiến sự và sự bất nhất của đồng minh Hoa Kỳ trong khi Cộng sản Bắc Việt tập trung nỗ lực phá hoại các công cuộc xây dưng phát triển của miền Nam. Tuy nhiên đă có những cố gắng về phiá chính phủ trong việc giải quyết phần nào thành công những tệ nạn, cứu trợ từ các nạn nhân chiến tranh đến các nạn nhân xă hội.

Sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, họ tuyên bố các tệ nạn là sản phẩm của “Mỹ Ngụy”, là hậu quả của chiến tranh; v́ họ cho rằng chế độ Xă hội Chủ Nghĩa của họ là thiên đường, không có những nạn bóc lột người và chính quyền của họ là ưu việt trong việc xây dựng “một xă hội phồn vinh hạnh phúc, vân vân.”

Thế nhưng đảng Cộng sản đă cầm quyền hơn nửa thế kỷ trên miền Bắc, và 32 năm tại miền Nam. Chúng ta thử rộng lương thông cảm hoàn cảnh chiến tranh mà chỉ tính khoảng thời gian 32 năm sau khi chiến tranh kết thúc. Người Cộng sản chiếm được miền Nam với một tài sản khổng lồ, một nhân lực hùng hậu có tŕnh độ kỹ thuật, và một mức phát triển kinh tế tương đối cao trong khu vực các quốc gia vùng Đông Nam Á do chính quyền miền Nam để lại. Họ đă làm được ǵ ngoài việc lợi dụng quyền năng để cướp đoạt, bóc lột cho vào túi tham không đáy sau những năm dài đói khổ trong cái thiên đường XHCN miền Bắc?

Khi loài người biết tập hợp lại để thành lập cơ cấu chính quyền, th́ chức năng đầu tiên và quan trọng nhất là lo cho phúc lợi xă hội của người dân. Đó là vấn đề an sinh xă hội. Các chức năng khác như quốc pḥng, phát triển kinh tế, giáo dục... cũng chẳng qua là để hỗ trợ, bảo đảm cho việc phát triển an sinh.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do B́nh Định Vương Lê Lợi khởi xướng, nhà mưu lược đại tài Nguyễn Trăi đă soạn ra một bản văn hùng hồn lên án giặc Minh và kêu gọi toàn dân kháng chiến. Đó là bản “B́nh Ngô Đại Cáo” mà đă mở đầu bằng câu:

Việc trị nước cốt để an dân.”

Chức năng chính quyền là làm cho dân giàu, nước mạnh. Chính quyền có khả năng thu thuế và có điều kiện vận động để thực thi mục tiêu an dân. Vấn đề xă hội phải được nâng lên hàng đầu cốt làm sao cho nơi nơi, người dân sống ấm no, hạnh phúc.

Thực tế hàng chục năm qua đă chứng minh, ngụy quyền Cộng sản không những không quan tâm đến giải quyết vấn đề an sinh xă hội, mà c̣n góp phần làm cho các tệ nạn tăng nhanh do những chính sách hà khắc, bóc lột. Họ chỉ thực sự quan tâm đến việc củng cố guồng máy cai trị và sự vững mạnh của đảng Cộng Sản để bảo vệ cho quyền lực và lợi nhuận riêng của đảng; hay nói đúng hơn, của những đảng viên ṇng cốt.

V́ thế, chúng ta không lấy làm lạ rằng trong khi có hàng triệu người dân chật vật kiếm miếng ăn, sống chui rúc trong những căn nhà ổ chuột, lang thang ngoài hè phố, đói rách nơi rừng thiêng nước độc, phải bán con, đợ vợ th́ có hằng trăm viên chức cao cấp trong đảng có tài sản từ hàng trăm triệu đến hang tỷ đô la. Số cán bộ Cộng sản trung cấp nay là các nhà tư sản đỏ, cũng có tài sản hàng triệu đô la mà không phải do khả năng kinh doanh thực sự, mà chỉ do quyền thế hối mại, tham những, ăn cắp từ công khố, từ tiền viện trợ của nước ngoài, từ tiền do sách nhiễu đồng bào. Họ không chừa một ngơ ngách nào trong sinh hoạt xă hội mà không lợi dụng để kiếm đồng tiền bất chính.

Do đó, các tệ nạn c̣n lại sau chiến tranh đă được nhân lên gấp bội. Lực lượng nạn nhân từ những người thiếu may mắn của miền Nam trước đây, nay được tăng cường thêm hàng triệu người do hậu quả chính sách đuổi dân thành thị đi xây dựng khu kinh tế mới, cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền”, cải tạo công thương nghiệp, tập sản hoá, hợp tác hoá, bán băi vượt biên. Dân đă nghèo, càng nghèo thêm. Dân đă đói, càng thêm đói.

Cho đến khi nh́n thấy nguồn lợi từ du lịch, Cộng sản đă đổ tiền vào xây dựng những khu du lịch bề thế để hấp dẫn khách nước ngoài. Sự phát triển thiếu cân bằng giữa các lănh vực đă đưa đến hậu quả là sự phồn vinh hoành tráng bên ngoài ở một vài trung tâm du lịch trong khi chỉ cách đó chừng vài trăm thước, là cảnh bùn lầy nước đọng của những cư dân thành phần mạt hạng trong xă hội. Và hậu quả nặng nề nhất ảnh hưởng đến suy đồ đạo đức xă hội là đưa đẩy một số lớn các thanh niên thiếu nữ vào con đường bán thân v́ chỉ có cách đó mới sống c̣n trong cái xă hội bắt đầu tiêm nhiễm những xa hoa của chế độ tư bản do du khách và các tư sản đỏ mới nổi lên phô bày ra.

Ngụy quyền Cộng Sản không những không chú tâm giải quyết tệ nạn mà c̣n tạo thêm ra tệ nạn. Đáng trách hơn, họ c̣n lợi dụng các tệ nạn, thiên tai để moi tiền cứu trợ. Từ hàng chục năm qua, chúng ta đă đọc trên các báo những tin tức về các phái đoàn trong nước, của người Việt hải ngoại quyên góp tiền để cứu trợ các thành phần nạn nhân từ tệ nạn xă hội cho đến thiên tai. Rất nhiều, nếu không nói là hầu hết, đều kể ra việc các viên chức các cấp trong guồng máy ngụy quyền Cộng sản đă ngăn cản, gây khó dể, đe doạ... nhằm giành lấy số tiền, phẩm vật cứu trợ để chia chác nhau. Họ đă thay gạo ngon bằng gạo mục trong các kho nhà nước để cấp phát cho nạn nhân. Họ đă lập ra danh sách những bà con bạn bè để nhận quà thay v́ những nạn nhân thực thụ. Họ đă cưỡng ép người thụ hưởng phải kư giấy nhận đủ tiền, nhưng chỉ trao cho khoảng một phần mười số tiền hay phẩm vật cứu trợ. Họ đă tuyên truyền lập công trong việc cứu trợ cho nhà nước Cộng Sản thay v́ đó là tấm ḷng của những người Việt Hải ngoại hay những cơ quan từ thiện quốc tế.

Họ đă gửi ra nước ngoài những tu sĩ quốc doanh để vận động quyên góp tín đồ gửi tiền về xây dựng nhà thờ, chùa chiền trong khi có hang trăm cơ sở tôn giáo bị họ tích thu từ hàng chục năm qua vẫn chưa được hoàn trả. Dù các giáo hội Thiên Chúa giáo hay Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo đă lên tiếng khẩn thiết để đ̣i lại.

Họ thu thuế người dân, họ nhận tiền viện trợ từ các quốc gia, các cơ quan quốc tế th́ họ phải sử dụng tiền đó vào việc phát triển, phúc lợi. Các quốc gia, các cơ quan tài trợ ngoại quốc khi cho nguỵ quyền Cộng sản Việt Nam vay nợ đă đặ ra những điều kiện này nọ về cải cách chính sách, giải quyết vấn đề dân chủ, nhân quyền. Trong khi tập thể người Việt “Chống Cộng” hải ngoại cho không mỗi năm hàng 3, 4 tỷ đô la mà không có một đ̣i hỏi điều kiện nào cả! Thật là rộng lượng dễ tính đến mức độ phải nói là xuẫn động. Chúng ta có người đă lao động cực khổ “cày” hai ba job, chịu thương chịu khó mỗi tuần hàng 50, 60 giờ trong các công xưởng của Mỹ để rồi đưa vai ra gánh giùm các gánh nặng của Cộng sản cho chúng rảnh tay làm những việc đàn áp nhân dân, làm giàu riêng cho bản thân, gia đ́nh. Chúng tôi đă nghe chuyện những con em cán bộ Cộng sản đi du học tại San Francisco mua nhà hơn nửa triệu đô la bằng tiền mặt; đi mua sắm hàng ngàn đô la mồi lần trong các shopping mall sang trọng. Chúng tôi đă nghe kể các “phu nhân” các cán bộ CS đi du lịch bên Trung hoa vung hàng ngàn đô la tiêu xài dễ dàng như chúng ta xài bạc chục bên Mỹ này.

Sau cơn băo cuối năm 2006 vừa qua tàn phá các tỉnh miền Trung, ngụy quyền CS tuyên bố chi ra khoảng 2 tỷ đồng Việt Nam (khoảng 150 ngàn đô la) để cứu trợ nạn nhân t́nh Quảng Trị. Trong khi đó, hai cán bộ đảng về hưu đă được cấp từ 6 đến 8 tỷ bạc để mua xe hơi đời mới. Cần lưu ư rằng chỉ tại Việt Nam và các nước Cộng Sản, ngoài hệ thống chính quyền để điều hành công việc nhà nước, c̣n tồn tại song song một hệ thống đảng đồ sộ hơn, đông đảo hơn để lănh đạo chính quyền. Mà người dân vừa phải đóng góp nuôi trả chi phí cho cơ quan công quyền, lại vừa trang trải cho cái hệ thống đảng lănh đạo này. Có rất nhiều cán bộ các cấp vừa nắm quyền trong đảng vừa trong chính quyền nên đă xem như hưởng hai lần phúc lợi.

Chúng tôi không dám nghi ngờ thiện ư của những cơ quan, những cá nhân quyên góp tiền về cứu trợ đồng bào (dù rằng không thể không có những phần tử xấu lợi dụng để mưu lợi riêng tư, lấy tiền bỏ túi hay mưu cầu danh vọng). Chúng tôi cũng không hề nói rằng những vị làm từ thiện là tay sai Cộng Sản như đă từng có người lên án gay gắt. Chúng tôi đánh giá cao và vinh danh những hoạt động từ thiện v́ đó là sự băn khoăn, sự cảm thông sâu sắc đến những đau khổ của đồng bào trong nước. Nhưng thử nghĩ cứ 100 đô la chúng ta gửi về, chỉ có vài đô la đến tay người đáng nhận, c̣n lại th́ vào túi bọn cán bộ. Như thế, sự giúp đỡ của chúng ta giải quyết được ǵ? Có thể coi là chúng ta đạt được mục tiêu cứu trợ không?

Không phải những người không ủng hộ việc cứu trợ là vô t́nh với nỗi đau của đồng bào. Họ có cách nh́n khác. Ví như một người bệnh mà vi trùng đă ăn vào máu cần được mổ xẻ, chữa trị tận gốc thay v́ chỉ dung thuốc đỏ bôi xoa bên ngoài vết lở lói. Cái vi trùng độc hại này là cơ chế Cộng sản đang cầm quyền mà ngày nào c̣n tại vị, th́ tệ nạn vẫn c̣n và càng gia tăng. Thế nên hải ngoại mới có những Trần Văn Bá, Vơ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh và hang ngàn chiến sĩ quốc gia đang ngày đêm hoạt động trong các lănh vực để tiếp tục cuộc chiến tranh chính trị chống nguỵ quyền CS. Thế nên trong nước mới có Hoà Thương Quảng Độ, Huyền Quang; những linh mục Nguyễn Văn Lư, mục sư Hồng Quang, những người tranh đấu Nguyễn Đan Quế, Phạm Hồng Sơn, Đỗ Nam Hải... Và lực lương này mỗi ngày mỗi được tăng cường thêm dù bị đàn áp, tù đày, nhục mạ.

Những tưởng rằng sau khi Liên bang Sô Viết và khối CS đông Âu sụp đổ, sẽ là cơ may cho Việt Nam thoát khỏi ách Cộng Sản. V́ trong thời điểm đó, Cộng sản VN vừa mất chỗ dựa về kinh tế từ Liên Sô, vừa đương đầu với thái độ thù nghịch của Trung Cộng, lại vừa bị các nước Tây phương cấm vận. Thế nhưng họ đă sống sót nhờ vào ḷng hào phóng của chính những “Người Việt Chống Cộng” tại Hoa Kỳ và các quốc gia tự do. Trong thời kỳ chiến tranh, miền Nam 17 triệu dân nhận khoảng hơn 1 tỷ đô la viện trợ, mà đại đa số là đổ vào quân viện. Chỉ một phần rất nhỏ là dùng cho vệc phát triển;. Thế mà Việt Nam Cộng Hoà đă tiến bộ hơn rất nhiều nước Đông Nam Á, phát triển giàu có hơn Thái Lan, Philippines, Đại Hàn. Thập niên 90, khi đất nước nằm trong bàn tay cai trị của Cộng sản, người Việt hải ngoại đă chuyển về nước từ hai, ba tỷ đô la mỗi năm qua các h́nh thức du lịch, thăm nhà, giúp đỡ thân nhân, bạn bè; và ngay cả có những con nai tơ đem hàng trăm triệu đô la về đầu tư để cuối cùng tiền mất vào tay Cộng sản, thân mang tù tội.

Duy chỉ c̣n lại một đối tương mà chúng ta phải cưu mang. Đó là các anh em Thương phế binh của Quân Lực VNCH mà Cộng sản đă hất hủi họ, xua đuổi họ ra bên lề xă hội và họ đang sống những ngày cuối đời tàn tạ. Chúng ta không thể mong chờ ngụy quyền CS giải quyết cho họ, mà đó là bổn phận của chính chúng ta, những người bạn chiến đấu, những sống sót nhờ sự hy sinh của họ.

Để có đề tài suy ngẫm chúng tôi xin kể lại chuyện năm 1994, khi chúng tôi về Washington DC để vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ cho phong trào đấu tranh Nhân quyền tại Việt Nam. Chúng tôi đă cay đắng nghe một lời b́nh phẩm từ một quư bà đang làm trợ lư bộ Ngoại Giao: Quư ông muốn chúng tôi có biện pháp kinh tế với chính quyền Cộng sản Việt Nam th́ trước hết, quư ông phải vận động, giáo dục đồng hương quư ông trước. Chính họ và quư ông đă nuôi dưỡng chế độ Cộng sản cho nó tồn tại đó.”

 Cụ bà Phạm Kim Thư (Tuyên Quang) ủng hộ Tuyên ngôn 8406, kêu gọi trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lư

Thư ủng hộ Tuyên ngôn dân chủ tự do ngày 8/4/2006 Tuyên bố ra nhập Đảng Dân chủ XXI. Đồng thời kêu gọi trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lư
 

Đôi lời của người viết: Cụ Phạm Kim Thu năm nay 80 tuổi, quê ở thị xă Tuyên Quang đă tha thiết gặp nhà báo Nguyễn Khắc Toàn và nhờ anh giúp đỡ tố cáo tội ác dă man của chế độ cộng sản Việt Nam ra trước công luận trong và ngoài nước. Đồng thời cụ cững đồng t́nh viết thư ủng hộ công cuộc tranh đấu đ̣i dân chủ tự do cho đất nước mà Tuyên ngôn Tự do dân chủ 8406 là tiêu biểu. Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đă lược ghi và bài viết này và được kỹ sư Đào Văn Thụy- thành viên của Công đoàn độc lập Việt Nam viết tiếp theo lời kể và các tư liệu của cụ Phạm Kim Thu.

Do kiến thức và thời gian của tôi có hạn, tôi không thể nói thay và nói hết nỗi đau khổ của một cụ già 80 tuổi, một người có công với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, bị chính nhà cầm quyền CS Việt Nam ngược đăi tàn tệ. Cụ Phạm Kim Thu trước đây đă có rất nhiều đơn, thư gửi các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng (Chúng tôi phải bỏ mất nhiều thời gian mới đọc hết bộ hồ sơ của chị Phạm Kim Thu, trong đó có hàng trăm đơn, thư thưa gửi đến các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng-trích Báo Quân đội nhân dân - số 9732 thứ ba 28-6-1988) nhưng nhà cầm quyền Việt Nam đều thờ ơ vô trách nhiệm với đơn thư của cụ (Chúng tôi đă đến gặp giám đốc sở thương binh và xă hội, chi bộ đảng, chính quyền, công an...
Tất cả đều cảm thấy “bế tắc”. Tại sao lại như vậy- trích Báo Quân đội nhân dân-số 9732 Thứ ba 28-6-1988) . Theo năm tháng, đơn, thư lại thêm dầy hơn nữa. Trong đó cụ có đơn, thư tố cáo Trung tâm bảo trợ xă hội tỉnh Tuyên Quang là một loại trại giam trá h́nh, một địa ngục trần gian. Cán bộ trại giam trá h́nh này đă đối xử với cụ, một bà già già yếu, cô đơn, một người “có công với cách mạng”. Nhiều lần cụ bị cán bộ trại này đánh đập, bóp cổ và d́m cụ xuống ao ngập bùn đen ḥng âm mưu giết chết cụ. Những hành động dă man, tàn bạo, phi nhân tính của những kẻ mặt người dạ thú, của những kẻ có chức quyền trong bộ máy công quyền của tỉnh Tuyên Quang và cấp cao hơn thế cần sớm đưa ra ánh sáng trước công luận trong nước và quốc tế. Việc làm tội lỗi này của những kẻ nắm chức quyền trong trại giam trá h́nh như trại bảo trợ xă hội tỉnh Tuyên Quang, không chỉ xảy ra với một ḿnh cụ Thu mà c̣n nhiều người khác là nạn nhân có hoàn cảnh tương tự như cụ. Đây lại thêm một bằng chứng tố cáo tội ác của nhà cầm quyền CSVN đă biến hóa các trại bảo trợ xă hội thành những giam trá h́nh, giam giữ những người dân oan kiên tŕ khiếu kiện chúng và kể cả những người có công với chúng.

Chúng tôi đề nghị những người có lương tri, giàu ḷng nhân ái trên thế giới và các tổ chức quốc tế hăy:

1. Làm sáng tỏ các vụ việc xảy ra tại các trại bảo trợ xă hội của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam mà rất nhiều đơn tố cáo về những vụ việc này chúng tôi đă đưa ra trước công luận.

2. Dừng tài trợ cho các cho các tổ chức trại xă hội của nhà cầm quyền CSVN v́ thực tế hiện nay những tổ chức này đă bị nhà cầm quyền CSVN lợi dụng nhằm đàn áp những người dân lương thiện, những người dân oan đi khiếu kiện và kể cả những người bất đồng chính kiến với đảng và nhà nước CSVN hiện nay.


Sau đây là toàn văn bức thư được cụ Phạm Kim Thu đồng ḷng kư tên, chụp ảnh để công bố công khai.

Kính gửi: - Cụ Hoàng Minh Chính nhà cách mạng lăo thành, nhà hoạt động cách mạng dân chủ
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lư.
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
- Nhà nghiên cứu văn hoá Hán-Nôm Trần Khuê
- Nhà báo tự do Nguyễn Khắc Toàn
- Kỹ sư Đỗ Nam Hải
- Giáo sư Nguyễn Chính Kết


Tôi tên Phạm Kim Thu 80 tuổi, vợ của liệt sỹ Trần Hữu Ngọc.
Thường trú tại: Trung tâm xă hội tỉnh Tuyên Quang - Sở lao động thương binh xă hội.

Tôi là một người dân lương thiện, nguyên trước là cán bộ của sở nông nghiệp và trước công tác tại nông trường Đồng Giao tỉnh Ninh B́nh, gia đ́nh tôi là một gia đ́nh có công với chế độ này. Năm 12 tuổi tham gia thiếu nhi tiền phong sau đó vào thanh niên tiền phong và trở thành du kích, làm cứu thương thuộc cục quân y liên khu 34…Hoà b́nh lập lại, tôi làm công tác phụ nữ ở nhiều nông trường quốc doanh và ở thị xă Tuyên Quang.

Chồng tôi ông Trần Hữu Ngọc, nguyên là cán bộ miền nam tập kết năm 1954 ra miền bắc qua tỉnh Cà Mau. Và ông ấy là quân nhân công tác trong quân đội nhân dân Việt nam, nhập ngũ tháng 8/1947. Công tác tại Trường huấn luyện đặc công của quân khu đóng tại tỉnh Sơn tây (nay là tỉnh Hà tây) đến tháng 4 /1961 được lệnh đi chiến trường miền Nam và hy sinh cho chế độ này vào ngày 3/8/1967. Năm 1969 tôi đi bước nữa xây dựng gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Thương cán bộ tập kết công tác ở Trường dân tộc trung ương. Năm 1976 ông nhận nhiệm vụ quốc tế và bị thương nặng. Năm 1978 do vết thương cũ tái phát ông đă hy sinh và được nhà cầm nước cộng sản VN công nhận là liệt sỹ.

Sau những năm tạm rời xa quê hương Tuyên Quang đem các con vượt hàng ngàn cây số vào Nam t́m tin tức và hài cốt người chồng đă hy sinh vào những năm sau khi chiến tranh ở miền Nam kết thúc ngày 30/4/1975. Được sự quan tâm, giúp đỡ của một số bạn bè đồng đội cũ của chồng, tôi đă đựơc gặp ông Nguyễn Văn Linh, lúc đó là bí thư thành uỷ thành phố Sài G̣n( Nay là thành phố Hồ Chí Minh) sau này ông làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam và ông Phan Văn Khải nguyên là chủ tịch UBND thành phố Sài G̣n sau này là thủ tướng chính phủ VNCS đă kư công văn số: 4585/UB-NC ngày 05/12/1988 gửi Sở nhà đất thành phố yêu cầu Sở nhà đất cấp cho gia đ́nh chúng tôi một căn hộ số 193/135 Đường Nguyễn Cư Trinh-Phường Nguyễn Cư Trinh-Quận I-Thành phố Sài g̣n tức TP“Hồ Chí Minh” hiện nay.

 

 Khi ấy tôi những tưởng cuộc sống tuổi già đă được yên thân, được nhà nước và chế độ CSVN hậu đăi với những gia đ́nh đă có công lao xây đắp nên nhà nước và chế độ CSVN này, th́ vào năm 1992, cán bộ pḥng nhà đất Quận I- Thành phố Hồ Chí Minh xảo quyệt đă lừa tôi nói rằng hăy đưa giấy tờ nhà để họ “giúp đỡ làm sổ đỏ cho gia đ́nh”. Sau đó, lợi dụng lúc tôi đi vắng họ đă cắt khoá cửa, vứt hết đồ đạc gia đ́nh tôi ra đường, rồi chúng niêm phong nhà lại và đuổi ba mẹ con tôi ra khỏi nhà (hiện nay căn nhà đó trị giá đến hàng ngh́n cây vàng).

 

Là một gia đ́nh “có công với cách mạng CSVN” mà chúng nhẫn tâm đẩy gia đ́nh tôi vào cảnh màn trời chiếu đất, tứ cố vô thân. Chúng hành xử đối với gia đ́nh tôi như những kẻ không có lương tri, không c̣n đạo lư. Gia đ́nh chúng tôi phải chịu những bất công nhưng chẳng biết kêu ai, rồi từ đó mẹ con tôi phải lần hồi sống đầu đường, xó chợ kiếm ăn từng bữa mong có ngày trở lại quê cũ. Sau bốn năm làm đủ mọi việc như nhặt rác, ăn xin, lượm ve chai và làm thuê …mẹ con tôi đă tích cóp được đủ một số tiền tuy rất nhỏ để về quê cũ Tuyên Quang. Mặc dù trong mấy năm sau tôi liên tục gơ cửa đến các cơ quan có thẩm quyền để kêu đ̣i công lư và đ̣i trả lại căn nhà mà chính quyền CS thành phố đă cấp cho mấy mẹ con tôi, và gia đ́nh tôi đă sinh sống nhiều năm trời tại đó.


Song về được quê th́ thật trớ trêu, là ngôi nhà cũ của tôi bằng tre nứa 4 gian cùng toàn bộ đồ đạc chiều rộng 70m, chiều dài 30 m sát nghĩa địa tại tổ 2 khu phố 2 phường Phan Thiết, thị xă Tuyên Quang, đó cũng là quê hương nơi chôn rau cắt rốn của các con tôi lại bị chính quyền tỉnh Tuyên Quang cướp đoạt trắng trợn, đặt thay vào đó là ngôi nhà xây để xe ô tô của ban chỉ huy quân sự thị xă Tuyên Quang (gọi tắt là thị đội).

 

Trước cảnh bị mất nhà trắng trợn này, tôi đă tố cáo liên tục nhiều năm và hoàn toàn có đủ bằng chứng để khẳng đ́nh chủ quyền của ḿnh. Đă nhiều năm nay tôi đề nghị nhà cầm quyền trả lại đất cho tôi, để ở và thờ phụng người chồng liệt sỹ cùng gia tộc tổ tiên. Thế nhưng nhà cầm quyền tỉnh Tuyên Quang đă không thèm đoái hoài ǵ đến những lá đơn của tôi và cũng không coi truyền thống đạo lư dân tộc ra ǵ. Bởi v́ khi đựơc đồng đội cũ báo tin về người chồng đă hy sinh tại mặt trận, nên tôi tức tốc lặn lội vào Nam t́m hài cốt chồng chỉ kịp khoá tạm trái cửa ngôi nhà tranh, vách đất tại Tuyên Quang tôi không hề bàn giao ai cũng như cho chính quyền. V́ tôi nghĩ rằng sau khi t́m hài cốt chồng xong sẽ quay trở về tiếp tục sống tại căn nhà tranh tre nứa lá đó.

 

Nhiều năm nay tôi đề nghị nhà cầm quyền CSVN tỉnh Tuyên Quang trả lại nền nhà đất cũ cho tôi, để ở và thờ phụng người chồng liệt sỹ cùng gia tộc tổ tiên. Thế nhưng nhà cầm quyền tỉnh Tuyên Quang đă không thèm đoái hoài ǵ đến những lá đơn của tôi và cũng không coi truyền thống đạo lư dân tộc ra ǵ. Đứa con trai yêu quư của tôi, không thể chịu nổi sự đầy đoạ của nhà cầm quyền như mẹ nó, từ đó bỏ đi mất biệt tích và tôi không biết có bị nhà cầm quyền bắt đi đâu hay mất tích nơi nào (Nói đến đây cụ nấc lên từng hồi nghẹn ngào khóc con “Con ơi, con không thể bỏ mẹ già tội nghiệp này đi đựơc, con c̣n trẻ dại, con không thể biệt vô âm tín như vậy, nay con c̣n sống hay đă vùi thân, bỏ mạng nơi đâu…”)


Đáp trả lại những ǵ tôi đă bị cướp mất vào tay chính quyền này, là tôi bị cưỡng chế vào trại bảo trợ mà thực chất là trại giam giữ trá h́nh nhằm làm thủ tiêu nỗi đau mất nhà, mất chồng, mất con của tôi để che dấu tội ác của các cán bộ cộng sản đă gây ra. Thế nhưng khi vào trại giam trá h́nh này cuộc sống của tôi như địa ngục trần gian dưói sự chỉ đạo của tên Lập-giám đốc trung tâm cùng bọn đầu trâu, mặt ngựa ngày đêm chửi bới, nhục mạ, đánh đuổi tôi. Chúng đối xử vói một người già, cô đơn “có công với cách mạng” như một con vật, như kẻ ăn hại báo cô của chúng.


Thậm chí thị Hảo một nữ cán bộ của trại không nặn ra việc ǵ để hành hạ tôi, thị điên khùng vu vạ cho một cụ già là tôi lúc đó gần 70 tuổi tranh cướp người t́nh của thị. Một sự việc vu khống, nhục mạ, đê hèn không thể chấp nhận được trong các xă hội vốn tôn trọng truyền thống đạo lư làm người.
Chúng luôn t́m mọi thủ đoạn thâm độc, quỷ quyệt để đối phó với một cụ già neo đơn, yếu đuối như tôi, phá hoại cuộc sống yên lành như việc chúng đă phá nát vườn rau, cây cối tôi trồng được trong trại để đày đọa, khủng bố tinh thần tôi.


Dă man hơn, ngày 28/10/2006 được sự chỉ huy, xúi bẩy, kích động của tên Lập giám đốc trung tâm, tên Lương một cán bộ trong trại, một gă đàn ông bị thịt to béo, khoẻ mạnh đă xông vào bóp cổ tôi một cách hung hăn, gă lấy bát đập vào đầu tôi dă man. Tôi kêu cứu nhưng tên giám đốc Lập đứng gần đấy đă tảng lờ, Y c̣n cấm hai bảo vệ ở cổng không đựơc can ngăn, không cho tôi trốn thoát khỏi bàn tay của tên đồ tể Lương và mặc cho tên Lương d́m tôi xuống ao bùn đen ngay trong trại đó. Bị đánh đập dă man, tàn bạo tôi đă phải nhập viện điều trị. Vốn đă quá già yếu nên mỗi khi trái gió, trở trời vết thương cũ lại tái phát hành hạ tuổi già.


Nhưng trong một đêm tối, do sơ ư của bọn cán bộ thực chất là bọn cai ngục trại giam trá h́nh đó tôi đă trốn thoát khỏi bàn tay độc ác, man rợ của chúng. Một ḿnh già cả không tiền bạc tài sản, lang thang khắp đầu đường xó chợ xin ăn, sống dựa vào ḷng tốt của những người dân hiền lành, nhân hậu rồi cũng t́m đến và nhập vào đoàn dân oan đi khiếu kiện ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng.


Tất cả tài sản của tôi quần áo, nồi điện, ấm nước, chăn màn, bát đũa, ấm chén, bát hương thờ chồng và tổ tiên… vẫn c̣n trong trại tôi không dám trở về lấy, v́ sợ bọn chúng bắt đựơc sẽ giết tôi như chúng đă rắp tâm.
Tôi đă nhiều lần viết đơn tố cáo lên chính quyền các cấp nhưng họ không giải quyết, hiện nay tôi không nhà, không cửa, không chồng, không con, tứ cố vô thân neo đơn, già yếu. Tôi như ngọn đèn leo lét trước gió, sống ngày nào là chỉ biết dựa vào mấy bà con trong phong trào dân oan đùm bọc, giúp đỡ nhau. C̣n nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lúc nào cũng rêu rao “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người như tôi, nhưng sự thật chỉ là ráo mép.

 

V́ vậy tôi đă nhờ nhà báo Nguyễn Khắc Toàn các cháu kỹ sư Đào Văn Thụy, Hồ Thị Bích Khương viết hộ bức thư này với mong muốn tố cáo tội ác của chúng đồng thời ủng hộ phong trào dân chủ ủng hộ cho sự đấu tranh đ̣i tự do, công bằng, b́nh đẳng cho nhân dân và cho tôi. Với mong muốn của tôi là đất nước sớm dân chủ tự do, công bằng bác ái, người với người biết thực sự yêu thương nhau, tương thân tương ái. Để sao cho cái ác, cái bất công đang tràn ngập trong xă hội hiện nay không c̣n được dung dưỡng nữa và phải bị trừng trị.


Bây giờ tôi cũng xin phép được nói rơ với các quư vị, là trong mấy năm trời đi khiếu kiện tố cáo tại Mai Xuân Thưởng tôi không hề biết 1 xu kẽm nào của đồng bào hải ngoại gửi về giúp đỡ dân oan. Có chăng chỉ có một số rất ít bọn cầm đầu mối trực tiếp nhận tiền của đồng bào hải ngoại gửi giúp đỡ dân oan, rồi chúng chia chác bỏ túi ăn với nhau mà thôi. Thủ đoạn của chúng là sau khi kẻ cầm đầu và phe cánh chia chác xong các món quà đồng bào gửi về cho dân oan dù rất nhỏ, chúng lại tổ chức cho một vài người dân oan tay chân của chúng kư tá một vài chữ kư rồi xác nhận là dân oan trong nước, mà cụ thể là tất cả bà con Mai Xuân Thưởng đă nhận đủ số quà mà bà con gửi về để gửi sang hải ngoại làm tin tiếp tục lừa bịp sự