|
Lá thư Ban Biên Tập
Tự Do
không tự nhiên mà có !
Cuối tháng
Giêng 2007, Nguyễn Tấn Dững, thủ tướng Cộng
Sản Việt Nam bệ kiến đức Giáo Hoàng tại La-Mă.
Cuộc yết kiến đă được sắp xếp, đ́nh hoăn rồi
lại được thực hiện như bất cứ tṛ chơi cút
bắt nào với người cộng sản. Bằng vào cuộc
gặp gỡ có vẻ như nhằm sưởi ấm lại giao dịch
từ lâu lạnh nhạt giữa Giáo Hội Thiên Chúa
Giáo và nhà nước Cộng Sản Việt Nam, người ta
hi vọng rằng Hà Nội có thể tỏ dấu muốn thay
đổi chính sách đối xử với các thành phần tôn
giáo dân tộc nơi quốc nội.
Đáp lại
thiện chí khoan dung, ôn hoà của Toà Thánh,
đúng dịp Tết Đinh Hợi vừa qua, Cộng Sản Việt
Nam đă ra tay hành động thô bạo tại Huế bằng
cách bao vây, xâm nhập toà Tổng Giám Mục sở
tại, lục soát tư thất và tài sản của các Cha
Nguyễn Văn Lư, Phan Văn Lợi, bắt giữ, cô lập
hai vị linh mục này, tịch thu nhiều tài sản
riêng cùng lúc với sự bắt bớ nhiều nhân vật
tranh đấu cho Dân Chủ ở nhiều nơi khác.
Chúng ta
hẳn c̣n nhớ ít năm trước nữa, thủ tướng CSVN
đương thời đă mời và gặp Hoà Thượng Tăng
Thống Thích Huyền Quang tại Bắc Bộ Phủ, Hà
Nội, hứa hẹn một giai đoạn mới, cởi mở, hoà
giải cùng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất. Sau đó, trở về chùa, các Giáo Phẩm
của Giáo Hội chẳng bao giờ được thấy sự thay
đổi cung cách ứng xử của các toán Công An
CS. Người CS nói một cách và làm một nẻo !
Thêm vài
tin tức nữa để ta cùng suy nghiệm : Ít hôm
trước đây, trên Nhân Dân nhật báo tại Bắc
Kinh, thủ tướng Trung Cộng Ôn Gia Bảo đă
đứng tên một bài chính luận quan trọng, sửa
soạn lư thuyết cho Đại hội 17 của đảng CS
Trung Hoa mùa hè 2007 này. Bác tất cả các
luận thuyết về nhu cầu phải có thay đổi
chính trị mạnh bạo đi song đôi t́nh trạng
tiền tiến của nền Xă hội chủ nghĩa (XHCN)
đặc tính Trung Hoa, người đệ nhị lănh tụ
Trung Cộng này đề xướng rằng con đường đi
tới XHCN cần kéo dài cả trăm năm và hệ thống
XHCN không có ǵ trái ngược với Dân Chủ. XHCN
hoàn thiện sẽ đạt các tiêu chuẩn của hệ
thống Dân Chủ chân chính và hệ thống pháp lư
phát triển cao độ.
Đông và
Tây chưa dễ gặp được nhau. Lư thuyết về sự
biến đổi trong hoà b́nh (hay c̣n gọi là diễn
tiến hoà b́nh) có vẻ như gặp trở ngại ở
phương Đông. Con đường đi tới Dân Chủ với
người Trung Hoa c̣n lắm thác, nhiều ghềnh.
Chúng ta sẽ không lấy làm lạ mai này, lữ học
tṛ của Bắc quốc CS tại vườn hoa Ba Đ́nh, ôm
chắc chiếc phao lư thuyết mới, sẽ nhắc lại
rằng "giai đoạn quá độ lên XHCN sẽ kéo dài
một thế kỷ". Đảng CSVN sẽ hiên ngang trên
con đường XHCN hàng trăm năm nữa !
Chúng ta
đă ghi nhận thành quả vô tích sự của Đại Hội
10 CSVN. Chúng ta cững sẽ dễ dàng tiên đoán
kết quả cuộc bầu cử Quốc Hội VN đầu hè này.
Gia nhập WTO chỉ mang thêm lợi nhuận đến cho
bè lữ cán bộ CS hủ hoá và tham những. Các
đầu tư và trợ cấp của Quốc Tế sẽ làm giầu
thêm cho các chủ nhân ông tư bản đỏ. Những
kẻ thủ lợi trong cuộc cải tiến kinh tế tại
VN cững chỉ là con em của tập đoàn giai cấp
mới. Chênh lệch giầu nghèo và bất công xă
hội sẽ gia tăng nhiều nữa. Xă hội VN tiếp
tục dậm chân trong bế tắc mọi mặt nhất là
trên lănh vực xă hội, giáo dục, đạo đức và
tiếp tục chậm lụt ở mọi địa hạt phát triển.
Ông Boris
Yeltsin, người đánh đổ đảng Công Sản Đông Âu
tại Nga đă chí lư khi chủ trương rằng "Cộng
sản không thể sửa đổi, chúng chỉ đáng bị
thay thế". Đảng CSVN dă bán nước và đang
buôn dân. Họ đă phạm quá nhiều tội ác, thối
nát và hư hỏng đến cùng cực. Trên sáu chục
năm rồi !T́nh trạng này không thể để kéo dài
măi. Người Việt Nam phải lo tự cứu
lấy ḿnh, dân thân vào cuộc đấu tranh cho
dân tộc ḿnh. Tự do không tự nhiên mà có !
Đầu Xuân Đinh Hợi (2007)
|
|
Sinh
họat yểm trợ Cộng Đồng
Từ sau 30 tháng tư năm 75, để tỵ nạn cộng
sản, hàng hàng lớp lớp người Việt Nam đă bỏ
nước ra đi t́m cuộc sống tự do ở khắp nơi
trên thế giới. Xa quê hương nhưng không
quên nguồn cội, nên dù ở đâu, hay trong bất
cứ thời điểm nào, người Việt chúng ta vẫn
t́m đến nhau, qua t́nh dân tộc và nghĩa đồng
bào, để cùng chia xẻ những nỗi ưu tư, bất
hạnh của kiếp người lưu vong, t́m nơi dung
thân và chờ đợi ngày về.
Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt Nam
tỵ nạn đă lên đến con số hơn 1.3 trịêu người.
Với bản chất thông minh, cần cù, chịu khó,
tiết kiệm, và giản dị, chúng ta đă được các
cộng đồng bạn qúy mến và nể v́. Thêm vào đó,
những họat động tích cực đa diện đă khiến
cộng đồng chúng ta càng ngày càng phát triển
mạnh trên mọi phương diện.
Sinh họat cộng đồng là biểu tượng cho sức
mạnh tập thể của một sắc dân trên quốc gia
định cư. Do đó các sinh họat của chúng ta,
ng̣ai những họat động đ̣i hỏi quyền lợi,
tham gia vào những sinh họat với các cộng
đồng bạn, đă bao gồm việc t́m một thế đứng
trong xă hội. Qua hơn 30 năm tha hương, cộng
đồng người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ, dù là một
cộng đồng trẻ trung so với nhiều cộng đồng
tỵ nạn hay di dân khác, nhưng đă đạt nhiều
thành quả trong các lănh vực, từ giáo
dục, kinh tế, đến mặt văn hóa
và chính trị.
Cộng đồng người
Việt ở hải ngọai đóng một vai tṛ then chốt trong việc yểm trợ
các phong trào đấu tranh cho dân chủ tại quốc nội, v́ thế hễ
cộng đồng càng lớn mạnh, th́ càng hữu hiệu trong việc yểm trợ
công cuộc đấu tranh chung. Với quan điểm này, Lực Lượng Quốc Dân
Việt Nam, dù chủ trương không xen vào nội bộ của cộng đồng,
nhưng vẫn luôn luôn chú trọng đến việc xây dựng cộng đồng ngơ
hầu nâng sức mạnh về chính trị, kinh tế của chúng ta lên ngang
với những cộng đồng lớn đă được thiết lập lâu năm ở Hoa Kỳ như
cộng đồng Do Thái và Cuba.
Trong tinh thần
ấy, Tiến Sĩ Hà Văn Hải, một thành viên của Lực Lượng Quốc Dân
Việt Nam, đă liên Lạc với Ṭa Bạch Ốc để giúp phái đ̣an đại diện
các cộng đồng về tŕnh kiến nghị đến Tổng Thống George W. Bush
trước khi ông đến VN tham dự Hội Nghi WTO. Đây là lần đầu tiên
Hội Dồng An Ninh Quốc Gia, một cơ quan tối cao tại Ṭa Bạch Ốc
đón tiếp đại diện Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Đúng 10 giờ
sáng, ngày 28 tháng 10 năm 2006, một phái đ̣an gồm 27 thành
viên thuộc nhiều tiểu bang tại Hoa kỳ đă được bà Holly Morrow,
Thứ Trưởng Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (U.S National
Security Council) tiếp. Tưởng cũng nên nhắc là Tiến Sĩ Henry
Kissinger và bà Bộ Trưởng Ngọai Giao Hoa Kỳ Rice đă từng giữ
chức Cố Vấn cho Hội Đồng này. Sau hơn một giờ thảo luận, bà
Holly Morrow đă nhận thỉnh nguyện thư của Cộng Đồng Việt Nam tại
Hoa Kỳ để đệ tŕnh lên Tổng Thống. Trước khi kết thúc buổi họp
Tiến Sĩ Hà Văn Hải cũng đă trao bằng lưu niệm đến bà Morrow để
tỏ sự biết ơn của của chúng ta trứơc việc Chính Phủ Hoa Kỳ đă
quan tâm đến những nhà đấu tranh cho dân chủ tại trong nước.
Cũng trong buổi chiều cùng ngày, tại Quốc Hội Hoa Kỳ, Chủ Tịch
Thượng Viện là Bác Sĩ William Frist đă đề cử ông Stephen G.
Rademarker, Đệ Nhất Tham Vụ Kiêm Giám Đốc An Ninh Sự Vụ đă tiếp
đón phái Đ̣an Đại Diện cộng đồng Việt Nam từ khắp nơi về. Trong
dịp này Đại Diện Cộng Đồng cũng tŕnh thỉnh nguyện thư lên Lưỡng
Viện Quốc Hội Hoa Kỳ về những nguyện vọng của Người Việt Nam tại
Hoa Kỳ về vấn đề Nhân Quyền và Tự Do cho dân tộc. Ông Khưu Văn
Phát, cựu Đại Tá Không Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng đă
tŕnh bày về trường hợp của Chiến Sĩ Lư Tống và yêu Cầu Thượng
Viện can thiệp kịp thời để Bộ Ngọai Giao áp lực không gỉai giao
Lư Tống về Việt Nam. Buổi họp đă kết thúc tốt đẹp sau khi phái
đ̣an chụp h́nh lưu niệm.
|
|
Đa Đảng Nhất Nguyên Thế Cờ
của CSVN.
Nhất Thanh
(Sydney)
Đa Nguyên Đa Đảng, đây
chính là một thể chế và con đường mà tuyệt
đại đa sô người VN chân chính phi CS đều
muốn đi đến và thực thi, nên gần đây nhất là
vào thế kỷ của toàn cầu dân chủ hoá, VN và
những phong trào dân chủ đang nở rộ như
những cánh én đang kêu gọi những cánh chim
Lạc Hồng cất lên tiếng nói lương tâm. Như đă
thấy những phong trào tẩy chay quốc hội CS
và những ǵ không phải do "dân
chủ thiết lập" như 118 nhà đấu tranh
cùng nhóm 8406, đồng thời cùng có một Đảng
Dân Chủ Bách Việt do một nhà doanh nghiệp
trẻ Nguyễn Phương Anh thành lập để đ̣i công
bằng trong xă hội VN, và cùng như đă thấy
trong cái xu hướng đa đảng cùng có một đảng
Dân Chủ XXI với một đảng viên phản tỉnh là
ông Trần Khuê làm "phó chủ tịch" làm một
trong những vai tṛ "lái
con thuyền Đảng Dân Chủ 21" với cái
tuyên ngôn Hoà Giải cùng lời kêu gọi "nhân
dân VN hăy tuân thủ theo luật pháp của XHCN".
Trên thực tế trong và
ngoài nước, ai cùng rơ Luật Pháp cùng Hiến
Pháp XHCN chỉ thực chất là cái để lừa gạt
quốc tế và trói tay người tranh đấu nói
riêng và người VN nói chung, khi kèm theo
sau cuối mỗi điều trong Hiến Pháp 1992 XHCN
đều là nhấn mạnh người dân phải tuân thủ
luật pháp cùng như điều 69 trong hiến pháp
là "tất cả đều
phải làm theo quy định luật pháp Nhà Nước"
cùng như điều 84 "
Quốc Hội VC quyết
định Hiến Pháp và Quyết định sự Trưng cầu
dân ư" , đây đă nói lên tất cả
đều do Quốc Hội VC quyết định và người dân
chỉ được "van
xin" và "chờ
đợi quyết định" , hơn bao giờ hết
khi điều 4 hiến pháp nêu rơ "ĐCS
là lực lượng lănh đạo Nhà Nước"
và Nhà Nước đây cùng là Quốc Hội, vậy cái
Quyết Định của Quốc Hội VC là dựa theo quyết
định của Đảng Quyền CS, cuối cùng là bổn cù
soạn lại và đảng CSVN vẫn toàn quyền quyết
định bất chấp dân chủ, vậy đấu tranh dưới
Hiến Pháp là đấu tranh dưới quy định và sự
quyết định của ĐCS như trong Nghị Định
38 và 56 của CSVN, chứ không phải là đ̣i hỏi
"phải là dân
chủ tự quyết".
Trở lại với vần đề "đa nguyên đa
đảng", hơn ai hết CSVN biết rơ đây là điều không
thể tránh v́ cái gương của Liên Xô và Đông Âu đă cho CSVN
thấy rơ cái sức mạnh của dân chủ, nên CSVN hiện nay đang
theo cái nước cờ "Đa Đảng Nhất
Nguyên", bằng chứng những dự án cho Đảng Viên Làm
Kinh Tế, tạo cơ hội cho Việt Kiều làm Đại Biểu Quốc Hội,
nhưng cái danh sách Đại Biểu cùng như sự Quyết Định là do
CSVN quyết định và như khoản (b) điều 4 Hiến Pháp là "
mọi tổ chức của Đảng CS hoạt động
trong khuôn khổ hiến pháp cùng pháp luật", nói
cách khác là ĐCS là trên hết "tất
cả CỦA Đảng phải theo luật Đảng". Trong cái
thế Đa Đảng CỦA ĐảngCS, th́ CSVN sẽ cùng cho nhiều "tay
sai" lập nhiều Đảng khác nhau NHƯNG đồng thời
cùng sẽ cố t́nh để ḷi cái đuôi XHCN trước dư luận.
Nh́n vào sự kiện vừa qua, nếu nói rằng Ông Trần Khuê không ư
thức về những lời hoà giải có tính cách Nghị Quyết 36 cùng
những lời tung hô bóng ma Hồ Chí Minh th́ khác nào nói ông
Trần Khuê là thuộc thành phần "Trán
Lớn Đầu To nhưng Trí Tệ" nhưng nếu nói ông
Trần Khuê là một trí thức và ư thức mà lại lên "paltalk"
diễn giải và vu khống cho "phong
trào 118 là danh sách ảo" th́ rơ ràng là
CỐ Ư để cái đuồi XHCN
ḷi ra cho thiên hạ nh́n. Sau đó khi bị dư luận lên án chưa
hết th́ đột nhiên Trần Khuê được thành lập làm phó chủ tịch
đảng DC21 v.v th́ đây đă cho chúng ta thấy cái tṛ chơi của
CSVN như đă làm với các những nhà đấu tranh khác đó là âm
mưu "Len Lỏi Phá Hoại, Cô Lập và
Đàn Áp" , v́ thứ nhất khi để cái đuôi VC ḷi ra
trong khi mặc áo đấu tranh th́ đây đă khiến ít nhiều dư luận
nghi ngờ và cảnh giác với những phong trào đấu tranh, và nếu
nhiều cái "Đa Đảng Ḷi Đuôi"
th́ cái dư luận sẽ không c̣n tin vào cái h́nh tượng của
những nhà đấu tranh như Lm Nguyễn văn Lư đă nói rơ trong câu
nói "CSVN rất thích nhiều
tuyên ngôn lá cải", và khi dân VN cùng dư
luận trong và ngoài không tin vậy th́ những người đấu tranh
chân chính trở nên bị cô lập để rồi cuối cùng là sự đàn áp
phi nhân tính của ĐCS. C̣n lại chăng chỉ là những cái Đa
Đảng chịu "tuân thủ theo Hiến
Pháp của XHCN" vào quốc hội để khoác áo thụng vái
nhau, cùng như trách nhiệm của "Đa
Đảng Ḷi Đuôi" chỉ thực chất là để lừa gạt dư
luận quốc tế là VN đă có đa đảng, mặt khác là kêu gọi và ru
ngủ người VN "tuân thủ và đoàn
kết làm nô lệ Van Xin theo quy định của ĐCS".
Trước những cái âm mưu đen tối "Len
Lơi, Phá Hoại, Cô Lập và đàn Áp" , cái để dân
VN thực sự đi đến cái Đa Nguyên chân chính không ǵ bằng
những sư thật đúng và sai được phơi bày, v́ khi có sự thật
người dân sẽ ư thức được ai là nằm vùng và ai là đấu tranh
chân chính, để rồi trong cái ư thức dân chủ đầy sự thật
chính bản thân người dân VN cùng dư luận sẽ tự nhiên biết
được những tiếng nói lương tâm và sự ủng hộ nên đặt vào đâu.
Do đó, những giới truyền thông trong và ngoài, những nhà trí
thức hay b́nh dân, khi ai biết sự thật hăy cùng nhau cất lên
tiếng nói đừng bao giờ sợ nói sự thật là mất đoàn kết, v́
vốn dĩ nói sự thật để cảnh giác dư luận cùng như giúp người
VN cùng dư luận thanh lọc sự đúng và sai t́m cái đáp số hợp
lư nhất để đoàn kết và ủng hộ. Trên thực tế người chân chính
sẽ luôn cám ơn những sự thật trong lư lẽ và bằng chứng và
ngược lại chỉ có những tay âm mưu lừa gạt ai đó mới chụp mù
cho những sự thật nói lên sai trái là mất đoàn kết hầu che
giấu cho những hành động đen tối.
|
Việt
Nam: Vấn nạn nô lệ
Hà Văn
Hải
Để trở thành một cường
quốc với nền văn hoá và kinh tế không ngừng
phát triển, một quốc gia phải có một hệ
thống giáo dục tân tiến, cuộc sống của người
dân phải được ổn định và được luật pháp bảo
vệ, để mọi người có cơ hội gia tăng sản xuất
tạo nên một nền kinh tế ngày càng phồn thịnh:
Dân giầu nước mạnh.
Chúng ta hăy nh́n vào
một số quốc gia tiến bộ trên thế giới để suy
ngẫm như Nhật Bản, Singapore tại Á Châu, Do
Thái tại Trung Đông và Hoa Kỳ tại Tây Phương.
Sở dĩ các quốc gia này được một vị thế
như ngày nay là v́ tất cả chính quyền của họ
đều xem việc đào tạo thế hệ thanh thiếu niên
là một quốc sách. Họ không những đă nỗ lực
tạo ra nhiều điều kiện thuận tiện để tất cả
trẻ con có cơ hội cắp sách đến trường, mà
c̣n có chính sách cưỡng bách giáo dục.
Hoa Kỳ có chương tŕnh "No Child Left
Behind". Tương tự, miền Nam nước Việt
Nam ngày xưa cững đă chủ trương "học
sinh là người tổ quốc mong cho mai sau".
Nói chung, các nhà lănh đạo biết
quan tâm đến tương lai đất nước, đều
hiểu rằng những tài nguyên qúy giá nhất
của đất nước của chính là lớp
người trẻ, theo đúng tinh thần "thanh
niên là rường cột của quốc gia". Phát
triển chất xám nơi lớp thanh thiếu niên
đồng nghĩa với đầu tư cho một nền kinh
tế giàu mạnh, và đào tạo một lớp thanh
niên thấu hiểu được ư nghĩa câu "quốc
gia hưng vong, thất phu hữu trách" đồng
nghĩa với xây dựng nền tảng cho một quốc
gia tự lực, tự cường và một dân tộc có
tinh thần tự quyết.
Thật là đau buồn
cho dân tộc Việt Nam chúng ta, sau tháng
tư năm 1975, rất nhiều thanh niên, thiếu
nữ đă bị đẩy ra khỏi khuôn viên nhà
trường, bị bó buộc gia nhập vào các đoàn
thanh niên thành phố đi đánh Tư Sản Mại
Bản, phải kiểm kê tài sản của ngay chính
người thân ḿnh để xă hội có một bộ mặt
mới: Mọi người đều NGHÈO bằng nhau. Sau
đó, họ bị đưa vào đoàn thanh niên Thủy
Lợi, sống đời sống tập thể và lao động
rất nhọc nhằn nơi các vùng quê hoang dă.
Vào năm 1979, một số đông thanh niên thuộc chế độ cũ, lớp bị đẩy đến
những vùng “kinh tế mới” để chết trong rừng thiêng nước độc, lớp bị đưa
vào các đoàn thanh niên Xung Phong làm bia đỡ đạn trong chiến trường Căm
Bu Chia. Qua những hành động này, Cộng Sản Việt Nam đă giết đi một lớp
thanh niên đă biết thế nào là không khí tự do, dân chủ của Việt Nam Cộng
Ḥa trước năm 1975. Ít ra, tầng lớp người trẻ này cũng có tinh thần cầu
tiến, biết suy nghĩ phải trái và chưa học cách lừa lọc và gian dối như
chế độ Cộng Sản mong muốn. Sau khi đă đẩy đất nước đến tận cùng chỗ
nghèo đói, tụt hậu, Cộng Sản Việt Nam đă tạo ra một lớp thanh niên nghèo
khổ đến độ họ phải dùng hết trí lực xoay sở sao cho cuộc sống đỡ chật
vật. Nghèo khổ đến độ họ không có th́ giờ nhận ra ḿnh đă bị tước hết
những quyền căn bản của con người và đang sống một kiếp đời nô lệ. Nhưng
thảm trạng này cũng chưa đủ, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam c̣n
mất hết lương tri, xuất cảng thế hệ thanh niên,
lớp nô lệ mới này (tuổi từ 17
đến 35) ra ngoại quốc để làm giầu cho bản thân.
Chính những tờ báo
quốc doanh khoe khoang Cộng Sản Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 80,000
nhân công trẻ ra ngoại quốc trong năm 2007( tuổi từ 18-30). Nếu chúng ta
nhẩm tính từ năm 1975 đến 1985, CSVN đă xuất khẩu lao nô đi làm công cho
Nga Sô, Tiệp Khắc để trả nợ chiến tranh. Trung b́nh một năm có khoảng 10
ngàn người bị gửi đi ngoại quốc lao động và trong ṿng 10 năm con số này
đă lên đến hơn 100 ngàn. Nhưng từ năm 1985 đến bây giờ, con số lao nô
Việt Nam trên thế giới đă nhanh chóng nhảy vọt, lên đến trên dưới một
triệu thanh niên, thiếu nữ (trung b́nh 50,000 một năm).
Bên cạnh những lao
nô, tệ trạng nô lệ t́nh dục đă và đang là một thảm cảnh của hàng trăm
ngàn thiếu nữ VN, trong đó nạn nhân là nhiều em gái chưa đầy 13 tuổi.
Trong các động măi dâm ở Cam bốt, có những em Việt Nam tuổi chỉ mới lên
5. Vào năm 2003, Cam Bốt đă gởi về Việt Nam hơn 60,000 cô gái làng chơi
nhiễm bệnh AIDS. Ngoài ra, số người mắc bệnh phong t́nh ngày càng gia
tăng ở Việt Nam. Chúng ta hăy thử làm một bài tính, nếu t́nh trạng này
cứ tiếp diễn, tương lai của nước Việt Nam sẽ đi về đâu trong thập niên
tới?
Đất nước Việt Nam có
cần sản xuất nô lệ không? Câu trả lời thật dễ dàng, chúng ta chỉ cần
nh́n vào mức thu nhập của VN: Số tiền mà người Việt tỵ nạn gởi về nước
khoảng 4 tỉ đô la (thống kê từ nhà cầm quyền Hà Nội), tiền bán dầu thô
là 8 tỉ (World Bank), tiền thu được qua việc xuất cảng hải sản và nông
sản (Việt Nam được xem là nước xuất cảng gạo đứng hàng thứ 3 trên thế
giới) độ 2 tỉ đô la. Với số tiền 14 tỉ đô la này, (chúng ta chưa kể
những khoảng tiền viện trợ từ các quốc gia tự do khác để giảm nghèo xóa
đói), nếu chia đều cho 80 triệu dân Việt Nam th́ mỗi đầu người, kể cả
trẻ em và người già, được 200 đô la một năm chưa kể đến tiền lương của
người Việt Nam c̣n đi làm được (mức lương trung b́nh của một người được
ước tính là 600 đô la một năm). Nhưng chua xót thay, những số tiền này
đă được đưa vào túi của những nhà lănh đạo của Đỉnh Cao Trí Tuệ. Và phong
trào buôn bán nô lệ, mối nhục của quốc gia, vẫn c̣n bị Đảng Cộng Sản
triệt để khai thác hầu phục vụ cho một tầng lớp tư bản đỏ, một giai cấp
mới xuất hiện từ sau năm 1975.
Chúng ta đă thấy
những tấm quảng cáo buôn bán các cô gái Việt Nam làm Nô Lệ T́nh Dục ở các xa lộ bên Đài Loan, tại những
quán cà phê Mă Lai, thương xá Singapore. Song song vào đó, con số những
lao nô ở Nga, Tiệp Khắc và Đức, Đại Hàn…ngày càng gia tăng. Với đà phát
triển này, chắc chắn chúng ta sẽ có cơ hội tiếp cận với lớp lao nô Việt
Nam này tại ngay xă hội Âu Mỹ chúng ta đang sống. Họ là những người Việt
Nam ra ngoại quốc bán sức lao động để mong thoát khỏi cảnh khốn cùng,
nơi xứ người họ phải đổ mồ hôi và nước mắt để kiếm từng đồng trả nợ cho
các cơ quan dịch vụ của nhà nước mà những cai thầu là cán bộ của Cộng
Sản Việt Nam.
Nước Việt Nam của
chúng ta đă mất đi cơ hội bằng vàng để có thể là một
trong những nước thịnh vượng nhất ở vùng Đông Nam Á. Nếu
HCM và đảng CSVN không xâm chiếm miền Nam cho ư do nhuộm đỏ thế giới, vua Quang Trung
đừng bị bạo bệnh và sống thêm được 10 năm, chắc chắn Sài G̣n sẽ vượt trỗi
hơn cả Singapore để xứng danh là Ḥn Ngọc Viễn Đông. Và như thế chúng ta
sẽ khỏi ngậm ngùi khi nghe ông Lư Quang Diệu tuyên bố: Việt Nam phải mất
20 năm nữa mới bằng Singapore ngày hôm nay.
Với sự tham lam vô
trách nhiệm của nhà cầm quyền Cộng Sản, thảm trạng nô lệ tại Việt Nam
sẽ không thể chấm dứt mà trái lại, quốc nạn này sẽ ngày càng trầm trọng.
Chỉ khi nào người dân Việt Nam trong nước không c̣n sợ hăi
để đồng lọat đứng lên đ̣i hỏi quyền làm chủ thực sự của ḿnh, và khối
người Việt tỵ nạn tại hải ngoại không c̣n
bị phân hóa, mà kết hợp thành một khối để giải thể
đảng cộng sản th́ đất nước
Việt Nam mới có hy vọng thoát ra khỏi cái nhục chậm tiến hiện tại.
Đă đến lúc toàn thể
người Việt tại quốc nội cũng như hải ngoại, tay trong tay, người nối
người trong tinh thần của Đại Hội Diên Hồng, vùng lên giành lại quyền
làm người, quyền khôi phục lại nhân phẩm, quyền được góp phần ḿnh trong
việc xây dựng đất nước, và quyền được hy sinh để bảo vệ lănh thổ và lănh
hải.
|
Các nhà sư Khmer Nam Bộ biểu t́nh trước sứ
quán Việt Nam
Nhân chuyến thăm
Cambodia của Chủ tịch nước Nguyễn
Minh Triết, khoảng trên 100 vị sư
người Khmer Krom ở thủ đô Phnom Penh
tổ chức biểu tình vào sáng ngày
27 tháng 2 năm 2007 gần Đại sứ quán
Việt Nam.
Một nhà sư đang
tham gia biểu tình cho biết mục
đích của cuộc biểu tình là để
phản đối chính quyền tỉnh Sóc
Trăng bắt 9 vị sư Khmer hoàn tục
vào ngày thứ Năm và thứ Bảy tuần
trước, trong đó có 4 vị đang bị
giam ở trong tù.
Đoàn biểu tình
dự định đến trước Đại sứ quán
Việt Nam tại thủ đô Phnom Penh, nhưng
chưa đến nới thì bị quân cảnh chặn
lại, do đó đoàn biểu tình phải
dừng lại trên đại lộ Monivong cách
Đại sứ quán Việt Nam khoảng 200
mét.
Có khoảng trên 300 lực lượng
quân cảnh được huy động đến ngăn
chặn đoàn biểu tình và bảo vệ
Đại sứ quán Việt Nam. Có một
số quân cảnh dùng lời lẽ thô
tục để chửa cách vị sư, đây là
hình ảnh hiếm thấy trong một
quốc gia phật giáo. Và các vị
quân cảnh này còn nói rằng các
vị sư đang phá hoại tình hữu
nghĩ giữa 2 nước Việt Nam -
Cambodia.
Đến gần 11
giờ trưa có một người đàn ông mặt thường phục nói chưa
thành thạo tiếng Khmer, các nhân chứng cho rằng ông ta là
người Việt, vì có nghe ông ta chửi bằng tiếng Việt, đến ôm
cổ một vị sư để giành lấy biểu ngữ. Có xô xát nhẹ xải ra
giữa người đàn ông này và các vị sư, nhưng không gây thương
tích cho cả 2 phía.
Khoảng trên 100
vị sư người Khmer Krom ở thủ đô Phnom Penh tổ chức biểu tình
vào sáng ngày 27 tháng 2 năm 2007 gần Đại sứ quán Việt Nam,
nhân chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết. Photo Nguyen Binh/RFA
Đến hơn 12
giờ trưa, thì đoàn biểu tình giải tán. Cao ủy nhân quyền
của Liên hiệp quốc tại thủ đô Phnom Penh đưa các vị sư này
về một ngôi chùa ở ngoại ô Phnom Penh để phỏng vấn.
Được biết
vào hôm Chủ Nhật vừa qua, đảng đối lập Sam Rainsy của
Cambodia cũng đưa ra thông cáo báo chí, trong đó tố cáo
chính phủ Việt Nam vi phạn nhân quyền đối với người Khmer
đang sinh sống ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Phát ngôn
viên đảng Sam Rainsy, bà Mou Sok Hour, người gốc miền Tây Nam
bộ nói với báo chí rằng thông cáo vừa đưa ra của đảng Sam
Rainsy sẽ không làm liên lụy đến người Việt đang sinh sống ở
Cambodia, mà chủ yếu đòi chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân
quyền đối với người Khmer ở Việt Nam.
Bà cho rằng
đảng Sam Rainsy rất quan tâm đến người Khmer hiện đang sinh
sống ở miền Nam Việt Nam, vì họ cũng là người Cambodia, và
là nạn nhân của hành vi vi phạm nhân quyền của chính phủ
Việt Nam.
Đại sứ
quán Việt Nam, sau nhiều lần né tránh với báo chí, vào
ngày thứ Hai vừa qua, ông Nguyễn Sơn Thủy, nhân viên Đại sứ
quán Việt Nam nói với nhật báo tiếng Anh The Cambodia Daily
rằng chính phủ Việt Nam không bắt buột các vị sư Khmer hoàn
tục. Ông cho rằng căng thẳng xảy ra ở Sóc Trăng vừa qua chỉ
là sự hiểu lầm giữa chính quyền địa phương và các vị sư
Khmer.
|
Kẻ Ăn Ốc, Người Đổ Vỏ
Luận
về việc Cứu Trợ Nạn Nhân các loại ở Việt
Nam
Đỗ Văn
Phúc
Bên cạnh những sự kiện chính trị nóng
hổi như sự ra đời các đoàn thể, đảng
phái tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền ở
Việt Nam, vấn đề cứu trợ nạn nhân các
thành phần tại Việt Nam cững là một đề
tài vô cùng tế nhị và gây tranh luận lâu
dài mà phía nào cững đưa ra những luận
cứ vững chắc, hợp t́nh để biện minh cho
lập trường của ḿnh.
Tệ nạn xă hội, thiên tai (băo lụt, hạn
hán, sóng thần) th́ thời nào cững có. Từ
xă hội nghèo đói cho đến xă hội văn minh
giàu có, không ai dám nhận là đă xoá hết
các tệ nạn đă đưa đẩy một tỷ lệ dân
chúng lâm vào cách hoàn cảnh đáng thương.
Ở Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Âu, cững có
hàng trăm ngàn người không nhà, trẻ em
khuyết tật, người già bị bỏ rơi, bệnh
nhân các nan y không phương cứu chữa. Đó
là những người hàng ngày sống trông chờ
vào ḷng nhân ái của đồng bào, đồng
chủng.
Người ta nói "Chỉ có cầm thú mới quay
lưng trước khổ đau của đồng loại." Nói
thế cững chưa đủ, v́ có nhiều loại thú
cững chẳng hề bỏ rơi đồng loại khi nguy
biến. Đó là nói về phạm trù đạo đức mà
tổ tiên chúng đă từng giáo dục qua những
câu ca dao rất quen thuộc:
Nhiểu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau
cùng
Thấy người hoạn
nạn th́ thương
Thấy người tàn
tật lại càng thương hơn
hoặc
Bầu ơi thương
lấy bí cùng,
Tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn
Truyền thống dân
tộc Việt Nam đă bao đời chứng minh t́nh nghĩa đùm bọc nhau trong bao
biến cố thăng trầm, qua bao tai biến thiên nhiên. Đó là việc hiển
nhiên, không chối căi và cũng không thể nại ra lư do để bài bác.
Tuy nhiên, chúng ta không xét vấn đề hời hợt bên ngoài mà không t́m
hiểu nguyên nhân sâu xa của những tệ nạn. Có như thế, chúng ta mới
t́m được cách giải quyết tận gốc rễ để giảm thiểu những nỗi khổ đau
của đồng bào, đồng loại một cách có hiệu quả.
Đó là chúng tôi muốn đề cập đến phạm trù chính trị mà hiện những
người Việt yêu nước đang phải dương đầu để giành lại quyền sống cho
người dân Việt Nam tại quốc nội.
Ngày xưa, trước năm 1975, tuy bị chi phối bởi chiến tranh dai dẳng,
tàn khốc, chính phủ VNCH cũng đă có những chương tŕnh cải tạo xă
hội. Ba mục tiêu chiến lược mà cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu
đề ra sau khi đắc cử là:
“Giải quyết Chiến tranh, Văn hồi Hoà b́nh và Cải tạo Xă hội.”
Khó mà bàn luận về thành quả của các mục tiêu này, v́ chính TT Thiệu
và nội các của ông đă bị chi phối bởi nhiều vấn đề rất phức tạp, khó
khăn của chiến sự và sự bất nhất của đồng minh Hoa Kỳ trong khi Cộng
sản Bắc Việt tập trung nỗ lực phá hoại các công cuộc xây dưng phát
triển của miền Nam. Tuy nhiên đă có những cố gắng về phiá chính phủ
trong việc giải quyết phần nào thành công những tệ nạn, cứu trợ từ
các nạn nhân chiến tranh đến các nạn nhân xă hội.
Sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, họ tuyên bố các tệ nạn là sản
phẩm của “Mỹ Ngụy”, là hậu quả của chiến tranh; v́ họ cho rằng chế
độ Xă hội Chủ Nghĩa của họ là thiên đường, không có những nạn bóc
lột người và chính quyền của họ là ưu việt trong việc xây dựng “một
xă hội phồn vinh hạnh phúc, vân vân.”
Thế nhưng đảng Cộng sản đă cầm quyền hơn nửa thế kỷ trên miền Bắc,
và 32 năm tại miền Nam. Chúng ta thử rộng lương thông cảm hoàn cảnh
chiến tranh mà chỉ tính khoảng thời gian 32 năm sau khi chiến tranh
kết thúc. Người Cộng sản chiếm được miền Nam với một tài sản khổng
lồ, một nhân lực hùng hậu có tŕnh độ kỹ thuật, và một mức phát
triển kinh tế tương đối cao trong khu vực các quốc gia vùng Đông Nam
Á do chính quyền miền Nam để lại. Họ đă làm được ǵ ngoài việc lợi
dụng quyền năng để cướp đoạt, bóc lột cho vào túi tham không đáy sau
những năm dài đói khổ trong cái thiên đường XHCN miền Bắc?
Khi loài người biết tập hợp lại để thành lập cơ cấu chính quyền, th́
chức năng đầu tiên và quan trọng nhất là lo cho phúc lợi xă hội của
người dân. Đó là vấn đề an sinh xă hội. Các chức năng khác như quốc
pḥng, phát triển kinh tế, giáo dục... cũng chẳng qua là để hỗ trợ,
bảo đảm cho việc phát triển an sinh.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do B́nh Định Vương Lê Lợi
khởi xướng, nhà mưu lược đại tài Nguyễn Trăi đă soạn ra một bản văn
hùng hồn lên án giặc Minh và kêu gọi toàn dân kháng chiến. Đó là bản
“B́nh Ngô Đại Cáo” mà đă mở đầu bằng câu:
“Việc trị nước cốt để an dân.”
Chức năng chính quyền là làm cho dân giàu, nước mạnh. Chính quyền có
khả năng thu thuế và có điều kiện vận động để thực thi mục tiêu an
dân. Vấn đề xă hội phải được nâng lên hàng đầu cốt làm sao cho nơi
nơi, người dân sống ấm no, hạnh phúc.
Thực tế hàng chục năm qua đă chứng minh, ngụy quyền Cộng sản không
những không quan tâm đến giải quyết vấn đề an sinh xă hội, mà c̣n
góp phần làm cho các tệ nạn tăng nhanh do những chính sách hà khắc,
bóc lột. Họ chỉ thực sự quan tâm đến việc củng cố guồng máy cai trị
và sự vững mạnh của đảng Cộng Sản để bảo vệ cho quyền lực và lợi
nhuận riêng của đảng; hay nói đúng hơn, của những đảng viên ṇng cốt.
V́ thế, chúng ta không lấy làm lạ rằng trong khi có hàng triệu người
dân chật vật kiếm miếng ăn, sống chui rúc trong những căn nhà ổ
chuột, lang thang ngoài hè phố, đói rách nơi rừng thiêng nước độc,
phải bán con, đợ vợ th́ có hằng trăm viên chức cao cấp trong đảng có
tài sản từ hàng trăm triệu đến hang tỷ đô la. Số cán bộ Cộng sản
trung cấp nay là các nhà tư sản đỏ, cũng có tài sản hàng triệu đô la
mà không phải do khả năng kinh doanh thực sự, mà chỉ do quyền thế
hối mại, tham những, ăn cắp từ công khố, từ tiền viện trợ của nước
ngoài, từ tiền do sách nhiễu đồng bào. Họ không chừa một ngơ ngách
nào trong sinh hoạt xă hội mà không lợi dụng để kiếm đồng tiền bất
chính.
Do đó, các tệ nạn c̣n lại sau chiến tranh đă được nhân lên gấp bội.
Lực lượng nạn nhân từ những người thiếu may mắn của miền Nam trước
đây, nay được tăng cường thêm hàng triệu người do hậu quả chính sách
đuổi dân thành thị đi xây dựng khu kinh tế mới, cải tạo “ngụy quân,
ngụy quyền”, cải tạo công thương nghiệp, tập sản hoá, hợp tác hoá,
bán băi vượt biên. Dân đă nghèo, càng nghèo thêm. Dân đă đói, càng
thêm đói.
Cho đến khi nh́n
thấy nguồn lợi từ du lịch, Cộng sản đă đổ tiền vào xây dựng những
khu du lịch bề thế để hấp dẫn khách nước ngoài. Sự phát triển thiếu
cân bằng giữa các lănh vực đă đưa đến hậu quả là sự phồn vinh hoành
tráng bên ngoài ở một vài trung tâm du lịch trong khi chỉ cách đó
chừng vài trăm thước, là cảnh bùn lầy nước đọng của những cư dân
thành phần mạt hạng trong xă hội. Và hậu quả nặng nề nhất ảnh hưởng
đến suy đồ đạo đức xă hội là đưa đẩy một số lớn các thanh niên thiếu
nữ vào con đường bán thân v́ chỉ có cách đó mới sống c̣n trong cái
xă hội bắt đầu tiêm nhiễm những xa hoa của chế độ tư bản do du khách
và các tư sản đỏ mới nổi lên phô bày ra.
Ngụy quyền Cộng Sản không những không chú tâm giải quyết tệ nạn mà
c̣n tạo thêm ra tệ nạn. Đáng trách hơn, họ c̣n lợi dụng các tệ nạn,
thiên tai để moi tiền cứu trợ. Từ hàng chục năm qua, chúng ta đă đọc
trên các báo những tin tức về các phái đoàn trong nước, của người
Việt hải ngoại quyên góp tiền để cứu trợ các thành phần nạn nhân từ
tệ nạn xă hội cho đến thiên tai. Rất nhiều, nếu không nói là hầu hết,
đều kể ra việc các viên chức các cấp trong guồng máy ngụy quyền Cộng
sản đă ngăn cản, gây khó dể, đe doạ... nhằm giành lấy số tiền, phẩm
vật cứu trợ để chia chác nhau. Họ đă thay gạo ngon bằng gạo mục
trong các kho nhà nước để cấp phát cho nạn nhân. Họ đă lập ra danh
sách những bà con bạn bè để nhận quà thay v́ những nạn nhân thực thụ.
Họ đă cưỡng ép người thụ hưởng phải kư giấy nhận đủ tiền, nhưng chỉ
trao cho khoảng một phần mười số tiền hay phẩm vật cứu trợ. Họ đă
tuyên truyền lập công trong việc cứu trợ cho nhà nước Cộng Sản thay
v́ đó là tấm ḷng của những người Việt Hải ngoại hay những cơ quan
từ thiện quốc tế.
Họ đă gửi ra nước ngoài những tu sĩ quốc doanh để vận động quyên góp
tín đồ gửi tiền về xây dựng nhà thờ, chùa chiền trong khi có hang
trăm cơ sở tôn giáo bị họ tích thu từ hàng chục năm qua vẫn chưa
được hoàn trả. Dù các giáo hội Thiên Chúa giáo hay Phật giáo, Cao
Đài, Hoà Hảo đă lên tiếng khẩn thiết để đ̣i lại.
Họ thu thuế người dân, họ nhận tiền viện trợ từ các quốc gia, các cơ
quan quốc tế th́ họ phải sử dụng tiền đó vào việc phát triển, phúc
lợi. Các quốc gia, các cơ quan tài trợ ngoại quốc khi cho nguỵ quyền
Cộng sản Việt Nam vay nợ đă đặ ra những điều kiện này nọ về cải cách
chính sách, giải quyết vấn đề dân chủ, nhân quyền. Trong khi tập thể
người Việt “Chống Cộng” hải ngoại cho không mỗi năm hàng 3, 4 tỷ đô
la mà không có một đ̣i hỏi điều kiện nào cả! Thật là rộng lượng dễ
tính đến mức độ phải nói là xuẫn động. Chúng ta có người đă lao động
cực khổ “cày” hai ba job, chịu thương chịu khó mỗi tuần hàng 50, 60
giờ trong các công xưởng của Mỹ để rồi đưa vai ra gánh giùm các gánh
nặng của Cộng sản cho chúng rảnh tay làm những việc đàn áp nhân dân,
làm giàu riêng cho bản thân, gia đ́nh. Chúng tôi đă nghe chuyện
những con em cán bộ Cộng sản đi du học tại San Francisco mua nhà hơn
nửa triệu đô la bằng tiền mặt; đi mua sắm hàng ngàn đô la mồi lần
trong các shopping mall sang trọng. Chúng tôi đă nghe kể các “phu
nhân” các cán bộ CS đi du lịch bên Trung hoa vung hàng ngàn đô la
tiêu xài dễ dàng như chúng ta xài bạc chục bên Mỹ này.
Sau cơn băo cuối
năm 2006 vừa qua tàn phá các tỉnh miền Trung, ngụy quyền CS tuyên bố
chi ra khoảng 2 tỷ đồng Việt Nam (khoảng 150 ngàn đô la) để cứu trợ
nạn nhân t́nh Quảng Trị. Trong khi đó, hai cán bộ đảng về hưu đă
được cấp từ 6 đến 8 tỷ bạc để mua xe hơi đời mới. Cần lưu ư rằng chỉ
tại Việt Nam và các nước Cộng Sản, ngoài hệ thống chính quyền để
điều hành công việc nhà nước, c̣n tồn tại song song một hệ thống
đảng đồ sộ hơn, đông đảo hơn để lănh đạo chính quyền. Mà người dân
vừa phải đóng góp nuôi trả chi phí cho cơ quan công quyền, lại vừa
trang trải cho cái hệ thống đảng lănh đạo này. Có rất nhiều cán bộ
các cấp vừa nắm quyền trong đảng vừa trong chính quyền nên đă xem
như hưởng hai lần phúc lợi.
Chúng tôi không
dám nghi ngờ thiện ư của những cơ quan, những cá nhân quyên góp tiền
về cứu trợ đồng bào (dù rằng không thể không có những phần tử xấu
lợi dụng để mưu lợi riêng tư, lấy tiền bỏ túi hay mưu cầu danh vọng).
Chúng tôi cũng không hề nói rằng những vị làm từ thiện là tay sai
Cộng Sản như đă từng có người lên án gay gắt. Chúng tôi đánh giá cao
và vinh danh những hoạt động từ thiện v́ đó là sự băn khoăn, sự cảm
thông sâu sắc đến những đau khổ của đồng bào trong nước. Nhưng thử
nghĩ cứ 100 đô la chúng ta gửi về, chỉ có vài đô la đến tay người
đáng nhận, c̣n lại th́ vào túi bọn cán bộ. Như thế, sự giúp đỡ của
chúng ta giải quyết được ǵ? Có thể coi là chúng ta đạt được mục
tiêu cứu trợ không?
Không phải những người không ủng hộ việc cứu trợ là vô t́nh với nỗi
đau của đồng bào. Họ có cách nh́n khác. Ví như một người bệnh mà vi
trùng đă ăn vào máu cần được mổ xẻ, chữa trị tận gốc thay v́ chỉ
dung thuốc đỏ bôi xoa bên ngoài vết lở lói. Cái vi trùng độc hại này
là cơ chế Cộng sản đang cầm quyền mà ngày nào c̣n tại vị, th́ tệ nạn
vẫn c̣n và càng gia tăng. Thế nên hải ngoại mới có những Trần Văn Bá,
Vơ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh và hang ngàn chiến sĩ quốc gia đang ngày
đêm hoạt động trong các lănh vực để tiếp tục cuộc chiến tranh chính
trị chống nguỵ quyền CS. Thế nên trong nước mới có Hoà Thương Quảng
Độ, Huyền Quang; những linh mục Nguyễn Văn Lư, mục sư Hồng Quang,
những người tranh đấu Nguyễn Đan Quế, Phạm Hồng Sơn, Đỗ Nam Hải...
Và lực lương này mỗi ngày mỗi được tăng cường thêm dù bị đàn áp, tù
đày, nhục mạ.
Những tưởng rằng
sau khi Liên bang Sô Viết và khối CS đông Âu sụp đổ, sẽ là cơ may
cho Việt Nam thoát khỏi ách Cộng Sản. V́ trong thời điểm đó, Cộng
sản VN vừa mất chỗ dựa về kinh tế từ Liên Sô, vừa đương đầu với thái
độ thù nghịch của Trung Cộng, lại vừa bị các nước Tây phương cấm vận.
Thế nhưng họ đă sống sót nhờ vào ḷng hào phóng của chính những
“Người Việt Chống Cộng” tại Hoa Kỳ và các quốc gia tự do. Trong thời
kỳ chiến tranh, miền Nam 17 triệu dân nhận khoảng hơn 1 tỷ đô la
viện trợ, mà đại đa số là đổ vào quân viện. Chỉ một phần rất nhỏ là
dùng cho vệc phát triển;. Thế mà Việt Nam Cộng Hoà đă tiến bộ hơn
rất nhiều nước Đông Nam Á, phát triển giàu có hơn Thái Lan,
Philippines, Đại Hàn. Thập niên 90, khi đất nước nằm trong bàn tay
cai trị của Cộng sản, người Việt hải ngoại đă chuyển về nước từ hai,
ba tỷ đô la mỗi năm qua các h́nh thức du lịch, thăm nhà, giúp đỡ
thân nhân, bạn bè; và ngay cả có những con nai tơ đem hàng trăm
triệu đô la về đầu tư để cuối cùng tiền mất vào tay Cộng sản, thân
mang tù tội.
Duy chỉ c̣n lại một đối tương mà chúng ta phải cưu mang. Đó là các
anh em Thương phế binh của Quân Lực VNCH mà Cộng sản đă hất hủi họ,
xua đuổi họ ra bên lề xă hội và họ đang sống những ngày cuối đời tàn
tạ. Chúng ta không thể mong chờ ngụy quyền CS giải quyết cho họ, mà
đó là bổn phận của chính chúng ta, những người bạn chiến đấu, những
sống sót nhờ sự hy sinh của họ.
Để có đề tài suy
ngẫm chúng tôi xin kể lại chuyện năm 1994, khi chúng tôi về
Washington DC để vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ cho phong trào đấu
tranh Nhân quyền tại Việt Nam. Chúng tôi đă cay đắng nghe một lời
b́nh phẩm từ một quư bà đang làm trợ lư bộ Ngoại Giao: “Quư
ông muốn chúng tôi có biện pháp kinh tế với chính quyền Cộng sản
Việt Nam th́ trước hết, quư ông phải vận động, giáo dục đồng hương
quư ông trước. Chính họ và quư ông đă nuôi dưỡng chế độ Cộng sản cho
nó tồn tại đó.”
|
Cụ
bà Phạm Kim Thư (Tuyên Quang) ủng hộ Tuyên
ngôn 8406, kêu gọi trả tự do cho Linh mục
Nguyễn Văn Lư
Thư ủng hộ Tuyên ngôn dân chủ tự do ngày
8/4/2006 Tuyên bố ra nhập Đảng Dân chủ XXI.
Đồng thời kêu gọi trả tự do cho Linh mục
Nguyễn Văn Lư
Đôi lời của người viết:
Cụ Phạm Kim Thu năm nay 80 tuổi, quê ở thị
xă Tuyên Quang đă tha thiết gặp nhà báo
Nguyễn Khắc Toàn và nhờ anh giúp đỡ tố cáo
tội ác dă man của chế độ cộng sản Việt Nam
ra trước công luận trong và ngoài nước. Đồng
thời cụ cững đồng t́nh viết thư ủng hộ công
cuộc tranh đấu đ̣i dân chủ tự do cho đất
nước mà Tuyên ngôn Tự do dân chủ 8406 là
tiêu biểu. Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đă lược
ghi và bài viết này và được kỹ sư Đào Văn
Thụy- thành viên của Công đoàn độc lập
Việt Nam viết tiếp theo lời kể và
các tư liệu của cụ Phạm Kim Thu.
Do kiến thức và thời gian của tôi có hạn,
tôi không thể nói thay và nói hết nỗi đau
khổ của một cụ già 80 tuổi, một người có
công với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, bị
chính nhà cầm quyền CS Việt Nam ngược đăi
tàn tệ. Cụ Phạm Kim Thu trước đây đă có rất
nhiều đơn, thư gửi các cấp, các ngành, các
cơ quan chức năng (Chúng tôi phải bỏ mất
nhiều thời gian mới đọc hết bộ hồ sơ của chị
Phạm Kim Thu, trong đó có hàng trăm đơn, thư
thưa gửi đến các cấp, các ngành, các cơ quan
chức năng-trích Báo Quân đội nhân dân - số
9732 thứ ba 28-6-1988) nhưng nhà cầm quyền
Việt Nam đều thờ ơ vô trách nhiệm với đơn
thư của cụ (Chúng tôi đă đến gặp giám đốc sở
thương binh và xă hội, chi bộ đảng, chính
quyền, công an...Tất
cả đều cảm thấy “bế tắc”. Tại sao lại như vậy- trích Báo
Quân đội nhân dân-số 9732 Thứ ba 28-6-1988) . Theo năm tháng,
đơn, thư lại thêm dầy hơn nữa. Trong đó cụ có đơn, thư tố
cáo Trung tâm bảo trợ xă hội tỉnh Tuyên Quang là một loại
trại giam trá h́nh, một địa ngục trần gian. Cán bộ trại giam
trá h́nh này đă đối xử với cụ, một bà già già yếu, cô đơn,
một người “có công với cách mạng”. Nhiều lần cụ bị cán bộ
trại này đánh đập, bóp cổ và d́m cụ xuống ao ngập bùn đen
ḥng âm mưu giết chết cụ. Những hành động dă man, tàn bạo,
phi nhân tính của những kẻ mặt người dạ thú, của những kẻ có
chức quyền trong bộ máy công quyền của tỉnh Tuyên Quang và
cấp cao hơn thế cần sớm đưa ra ánh sáng trước công luận
trong nước và quốc tế. Việc làm tội lỗi này của những kẻ nắm
chức quyền trong trại giam trá h́nh như trại bảo trợ xă hội
tỉnh Tuyên Quang, không chỉ xảy ra với một ḿnh cụ Thu mà
c̣n nhiều người khác là nạn nhân có hoàn cảnh tương tự như
cụ. Đây lại thêm một bằng chứng tố cáo tội ác của nhà cầm
quyền CSVN đă biến hóa các trại bảo trợ xă hội thành những
giam trá h́nh, giam giữ những người dân oan kiên tŕ khiếu
kiện chúng và kể cả những người có công với chúng.
Chúng tôi đề nghị những người có lương tri, giàu ḷng nhân
ái trên thế giới và các tổ chức quốc tế hăy:
1. Làm sáng tỏ các vụ việc xảy ra tại các
trại bảo trợ xă hội của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam mà
rất nhiều đơn tố cáo về những vụ việc này chúng tôi đă đưa
ra trước công luận.
2. Dừng tài trợ cho các cho các tổ chức trại xă hội của nhà
cầm quyền CSVN v́ thực tế hiện nay những tổ chức này đă bị
nhà cầm quyền CSVN lợi dụng nhằm đàn áp những người dân
lương thiện, những người dân oan đi khiếu kiện và kể cả
những người bất đồng chính kiến với đảng và nhà nước CSVN
hiện nay.
Sau đây là toàn văn bức thư được cụ Phạm Kim Thu đồng ḷng
kư tên, chụp ảnh để công bố công khai.
Kính gửi: - Cụ Hoàng Minh Chính nhà cách mạng
lăo thành, nhà hoạt động cách mạng dân chủ
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lư.
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
- Nhà nghiên cứu văn hoá Hán-Nôm Trần Khuê
- Nhà báo tự do Nguyễn Khắc Toàn
- Kỹ sư Đỗ Nam Hải
- Giáo sư Nguyễn Chính Kết
Tôi tên Phạm Kim Thu 80 tuổi, vợ của liệt sỹ
Trần Hữu Ngọc.
Thường trú tại: Trung tâm xă hội tỉnh Tuyên Quang - Sở lao
động thương binh xă hội.
Tôi là một người dân lương thiện, nguyên trước là cán bộ của
sở nông nghiệp và trước công tác tại nông trường Đồng Giao
tỉnh Ninh B́nh, gia đ́nh tôi là một gia đ́nh có công với chế
độ này. Năm 12 tuổi tham gia thiếu nhi tiền phong sau đó vào
thanh niên tiền phong và trở thành du kích, làm cứu thương
thuộc cục quân y liên khu 34…Hoà b́nh lập lại, tôi làm công
tác phụ nữ ở nhiều nông trường quốc doanh và ở thị xă Tuyên
Quang.
Chồng tôi ông Trần Hữu Ngọc, nguyên là cán bộ miền nam tập
kết năm 1954 ra miền bắc qua tỉnh Cà Mau. Và ông ấy là quân
nhân công tác trong quân đội nhân dân Việt nam, nhập ngũ
tháng 8/1947. Công tác tại Trường huấn luyện đặc công của
quân khu đóng tại tỉnh Sơn tây (nay là tỉnh Hà tây) đến
tháng 4 /1961 được lệnh đi chiến trường miền Nam và hy sinh
cho chế độ này vào ngày 3/8/1967. Năm 1969 tôi đi bước nữa
xây dựng gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Thương cán bộ tập kết
công tác ở Trường dân tộc trung ương. Năm 1976 ông nhận
nhiệm vụ quốc tế và bị thương nặng. Năm 1978 do vết thương
cũ tái phát ông đă hy sinh và được nhà cầm nước cộng sản VN
công nhận là liệt sỹ.
Sau những năm tạm rời xa quê hương Tuyên Quang đem các con
vượt hàng ngàn cây số vào Nam t́m tin tức và hài cốt người
chồng đă hy sinh vào những năm sau khi chiến tranh ở miền
Nam kết thúc ngày 30/4/1975. Được sự quan tâm, giúp đỡ của
một số bạn bè đồng đội cũ của chồng, tôi đă đựơc gặp ông
Nguyễn Văn Linh, lúc đó là bí thư thành uỷ thành phố Sài G̣n(
Nay là thành phố Hồ Chí Minh) sau này ông làm Tổng bí thư
Đảng cộng sản Việt Nam và ông Phan Văn Khải nguyên là chủ
tịch UBND thành phố Sài G̣n sau này là thủ tướng chính phủ
VNCS đă kư công văn số: 4585/UB-NC ngày 05/12/1988 gửi Sở
nhà đất thành phố yêu cầu Sở nhà đất cấp cho gia đ́nh chúng
tôi một căn hộ số 193/135 Đường Nguyễn Cư Trinh-Phường
Nguyễn Cư Trinh-Quận I-Thành phố Sài g̣n tức TP“Hồ Chí Minh”
hiện nay.
Khi ấy tôi những tưởng cuộc sống tuổi già đă được
yên thân, được nhà nước và chế độ CSVN hậu đăi với những gia
đ́nh đă có công lao xây đắp nên nhà nước và chế độ CSVN này,
th́ vào năm 1992, cán bộ pḥng nhà đất Quận I- Thành phố Hồ
Chí Minh xảo quyệt đă lừa tôi nói rằng hăy đưa giấy tờ nhà
để họ “giúp đỡ làm sổ đỏ cho gia đ́nh”. Sau đó, lợi dụng lúc
tôi đi vắng họ đă cắt khoá cửa, vứt hết đồ đạc gia đ́nh tôi
ra đường, rồi chúng niêm phong nhà lại và đuổi ba mẹ con tôi
ra khỏi nhà (hiện nay căn nhà đó trị giá đến hàng ngh́n cây
vàng).
Là một gia đ́nh “có công với cách mạng CSVN” mà chúng
nhẫn tâm đẩy gia đ́nh tôi vào cảnh màn trời chiếu đất, tứ cố
vô thân. Chúng hành xử đối với gia đ́nh tôi như những kẻ
không có lương tri, không c̣n đạo lư. Gia đ́nh chúng tôi
phải chịu những bất công nhưng chẳng biết kêu ai, rồi từ đó
mẹ con tôi phải lần hồi sống đầu đường, xó chợ kiếm ăn từng
bữa mong có ngày trở lại quê cũ. Sau bốn năm làm đủ mọi việc
như nhặt rác, ăn xin, lượm ve chai và làm thuê …mẹ con tôi
đă tích cóp được đủ một số tiền tuy rất nhỏ để về quê cũ
Tuyên Quang. Mặc dù trong mấy năm sau tôi liên tục gơ cửa
đến các cơ quan có thẩm quyền để kêu đ̣i công lư và đ̣i trả
lại căn nhà mà chính quyền CS thành phố đă cấp cho mấy mẹ
con tôi, và gia đ́nh tôi đă sinh sống nhiều năm trời tại đó.
Song về được quê th́ thật trớ trêu, là ngôi nhà cũ của tôi
bằng tre nứa 4 gian cùng toàn bộ đồ đạc chiều rộng 70m,
chiều dài 30 m sát nghĩa địa tại tổ 2 khu phố 2 phường Phan
Thiết, thị xă Tuyên Quang, đó cũng là quê hương nơi chôn rau
cắt rốn của các con tôi lại bị chính quyền tỉnh Tuyên Quang
cướp đoạt trắng trợn, đặt thay vào đó là ngôi nhà xây để xe
ô tô của ban chỉ huy quân sự thị xă Tuyên Quang (gọi tắt là
thị đội).
Trước cảnh bị mất nhà trắng trợn này, tôi đă tố
cáo liên tục nhiều năm và hoàn toàn có đủ bằng chứng để
khẳng đ́nh chủ quyền của ḿnh. Đă nhiều năm nay tôi đề nghị
nhà cầm quyền trả lại đất cho tôi, để ở và thờ phụng người
chồng liệt sỹ cùng gia tộc tổ tiên. Thế nhưng nhà cầm quyền
tỉnh Tuyên Quang đă không thèm đoái hoài ǵ đến những lá đơn
của tôi và cũng không coi truyền thống đạo lư dân tộc ra ǵ.
Bởi v́ khi đựơc đồng đội cũ báo tin về người chồng đă hy
sinh tại mặt trận, nên tôi tức tốc lặn lội vào Nam t́m hài
cốt chồng chỉ kịp khoá tạm trái cửa ngôi nhà tranh, vách đất
tại Tuyên Quang tôi không hề bàn giao ai cũng như cho chính
quyền. V́ tôi nghĩ rằng sau khi t́m hài cốt chồng xong sẽ
quay trở về tiếp tục sống tại căn nhà tranh tre nứa lá đó.
Nhiều năm nay tôi đề nghị nhà cầm quyền CSVN tỉnh Tuyên
Quang trả lại nền nhà đất cũ cho tôi, để ở và thờ phụng
người chồng liệt sỹ cùng gia tộc tổ tiên. Thế nhưng nhà cầm
quyền tỉnh Tuyên Quang đă không thèm đoái hoài ǵ đến những
lá đơn của tôi và cũng không coi truyền thống đạo lư dân tộc
ra ǵ. Đứa con trai yêu quư của tôi, không thể chịu nổi sự
đầy đoạ của nhà cầm quyền như mẹ nó, từ đó bỏ đi mất biệt
tích và tôi không biết có bị nhà cầm quyền bắt đi đâu hay
mất tích nơi nào (Nói đến đây cụ nấc lên từng hồi nghẹn ngào
khóc con “Con ơi, con không thể bỏ mẹ già tội nghiệp này đi
đựơc, con c̣n trẻ dại, con không thể biệt vô âm tín như vậy,
nay con c̣n sống hay đă vùi thân, bỏ mạng nơi đâu…”)
Đáp trả lại những ǵ tôi đă bị cướp mất vào tay chính quyền
này, là tôi bị cưỡng chế vào trại bảo trợ mà thực chất là
trại giam giữ trá h́nh nhằm làm thủ tiêu nỗi đau mất nhà,
mất chồng, mất con của tôi để che dấu tội ác của các cán bộ
cộng sản đă gây ra.
Thế nhưng khi vào trại giam trá h́nh này cuộc sống của tôi
như địa ngục trần gian dưói sự chỉ đạo của tên Lập-giám đốc
trung tâm cùng bọn đầu trâu, mặt ngựa ngày đêm chửi bới,
nhục mạ, đánh đuổi tôi. Chúng đối xử vói một người già, cô
đơn “có công với cách mạng” như một con vật, như kẻ ăn hại
báo cô của chúng.
Thậm chí thị Hảo một nữ cán bộ của trại không nặn ra việc ǵ
để hành hạ tôi, thị điên khùng vu vạ cho một cụ già là tôi
lúc đó gần 70 tuổi tranh cướp người t́nh của thị. Một sự
việc vu khống, nhục mạ, đê hèn không thể chấp nhận được
trong các xă hội vốn tôn trọng truyền thống đạo lư làm người.
Chúng luôn t́m mọi thủ đoạn thâm độc, quỷ quyệt để đối phó
với một cụ già neo đơn, yếu đuối như tôi, phá hoại cuộc sống
yên lành như việc chúng đă phá nát vườn rau, cây cối tôi
trồng được trong trại để đày đọa, khủng bố tinh thần tôi.
Dă man hơn, ngày 28/10/2006 được sự chỉ huy, xúi bẩy, kích
động của tên Lập giám đốc trung tâm, tên Lương một cán bộ
trong trại, một gă đàn ông bị thịt to béo, khoẻ mạnh đă xông
vào bóp cổ tôi một cách hung hăn, gă lấy bát đập vào đầu tôi
dă man. Tôi kêu cứu nhưng tên giám đốc Lập đứng gần đấy đă
tảng lờ, Y c̣n cấm hai bảo vệ ở cổng không đựơc can ngăn,
không cho tôi trốn thoát khỏi bàn tay của tên đồ tể Lương và
mặc cho tên Lương d́m tôi xuống ao bùn đen ngay trong trại
đó. Bị đánh đập dă man, tàn bạo tôi đă phải nhập viện điều
trị. Vốn đă quá già yếu nên mỗi khi trái gió, trở trời vết
thương cũ lại tái phát hành hạ tuổi già.
Nhưng trong một đêm tối, do sơ ư của bọn cán bộ thực chất là
bọn cai ngục trại giam trá h́nh đó tôi đă trốn thoát khỏi
bàn tay độc ác, man rợ của chúng. Một ḿnh già cả không tiền
bạc tài sản, lang thang khắp đầu đường xó chợ xin ăn, sống
dựa vào ḷng tốt của những người dân hiền lành, nhân hậu rồi
cũng t́m đến và nhập vào đoàn dân oan đi khiếu kiện ở vườn
hoa Mai Xuân Thưởng.
Tất cả tài sản của tôi quần áo, nồi điện, ấm nước, chăn màn,
bát đũa, ấm chén, bát hương thờ chồng và tổ tiên… vẫn c̣n
trong trại tôi không dám trở về lấy, v́ sợ bọn chúng bắt
đựơc sẽ giết tôi như chúng đă rắp tâm.
Tôi đă nhiều lần viết đơn tố cáo lên chính quyền các cấp
nhưng họ không giải quyết, hiện nay tôi không nhà, không cửa,
không chồng, không con, tứ cố vô thân neo đơn, già yếu. Tôi
như ngọn đèn leo lét trước gió, sống ngày nào là chỉ biết
dựa vào mấy bà con trong phong trào dân oan đùm bọc, giúp đỡ
nhau. C̣n nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lúc nào cũng rêu
rao “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người như tôi, nhưng sự
thật chỉ là ráo mép.
V́ vậy tôi đă nhờ nhà báo Nguyễn Khắc
Toàn các cháu kỹ sư Đào Văn Thụy, Hồ Thị Bích Khương viết hộ
bức thư này với mong muốn tố cáo tội ác của chúng đồng thời
ủng hộ phong trào dân chủ ủng hộ cho sự đấu tranh đ̣i tự do,
công bằng, b́nh đẳng cho nhân dân và cho tôi. Với mong muốn
của tôi là đất nước sớm dân chủ tự do, công bằng bác ái,
người với người biết thực sự yêu thương nhau, tương thân
tương ái. Để sao cho cái ác, cái bất công đang tràn ngập
trong xă hội hiện nay không c̣n được dung dưỡng nữa và phải
bị trừng trị.
Bây giờ tôi cũng xin phép được nói rơ với các quư vị, là
trong mấy năm trời đi khiếu kiện tố cáo tại Mai Xuân Thưởng
tôi không hề biết 1 xu kẽm nào của đồng bào hải ngoại gửi về
giúp đỡ dân oan. Có chăng chỉ có một số rất ít bọn cầm đầu
mối trực tiếp nhận tiền của đồng bào hải ngoại gửi giúp đỡ
dân oan, rồi chúng chia chác bỏ túi ăn với nhau mà thôi. Thủ
đoạn của chúng là sau khi kẻ cầm đầu và phe cánh chia chác
xong các món quà đồng bào gửi về cho dân oan dù rất nhỏ,
chúng lại tổ chức cho một vài người dân oan tay chân của
chúng kư tá một vài chữ kư rồi xác nhận là dân oan trong
nước, mà cụ thể là tất cả bà con Mai Xuân Thưởng đă nhận đủ
số quà mà bà con gửi về để gửi sang hải ngoại làm tin tiếp
tục lừa bịp sự | | |