Diệt sợ hăi (I)
Phạm Văn Bản 21/10/2007
Trong kỳ hè vừa qua, về Việt Nam tôi
có dịp tiếp xúc với một nhóm bạn trí
thức, và khi bàn luận tới áp bức bất
công của nhà cầm quyền Cộng sản, th́
nhiều người lại hoảng hốt, sợ hăi
với nỗi lo âu hiện rơ ra trên nét
mặt. Quả thật người trí thức hôm nay
đang bị mắc chứng bệnh sợ hăi của
thời thế, và trở thành người liệt
kháng trước bất công xă hội.
Sợ là đối lực của tự tin, là kẻ thù
của thành công, là cản trở của toàn
dân và công cuộc đấu tranh tự do dân
chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Sợ làm ta bỏ lỡ nhiều cơ hội, sợ gây
cho ta mệt mỏi chán chường, sợ khiến
ta im lặng khi muốn nói, sợ ngăn cản
bước ta tiến lên, sợ hạn chế ta
thành công trên đường đời.
Hầu hết mọi nỗi sợ hăi đều bắt nguồn
từ lo lắng, hoảng hốt, nhu nhược. Sợ
khởi đầu chỉ thoáng qua trong trí óc,
rồi lan ra khắp cơ thể, và cuối cùng
chỉ v́ sợ mà đă giết chết niềm tự
tin của người đó, khiến họ trở thành
liệt kháng trước bất công.
Do đó muốn thành công th́ ta phải
diệt trừ sợ hăi để xây dựng niềm
tin. Và muốn trừ bệnh sợ hăi, ta
phải truy tận căn nguyên th́ mới có
thể chữa trị được.
Để diệt trừ sợ hăi, xây đắp niềm tin
ta cần theo hai bước:
– Phân loại sợ, t́m hiểu đích xác
xem ta sợ cái ǵ
– Hành động chữa trị, dùng hoạt động
thích ứng với loại sợ đó
Khi chạm trán với thử thách, đối
diện với khó khăn, và đứng trước
công việc dù nhỏ hay lớn, dù đơn
giản hay phức tạp, mỗi người có một
phản ứng riêng. Có người nh́n công
việc với vẻ ung dung, nhàn hạ và
bước tới trả lời “Tôi làm được.”
Có người nh́n công việc với một
thoáng do dự, rồi đứng yên bất động.
Cũng có người khi thấy công việc th́
nỗi lo lắng sợ hăi hiện ra.
Như thế, những người ung dung nhàn
hạ, niềm tin tỏa ra ở bất cứ nơi đâu,
bất cứ lúc nào, có phải v́ họ sinh
ra là đă có sẵn niềm tin sao?
Chắc chắn là không. Không ai sinh ra
mà đă có sẵn niềm tin. Những người
ấy, họ đă chinh phục lo âu, xóa tan
sợ hăi, thu đạt tự tin mỗi lần một
ít, và từ từ mà có nhiều để tới lúc
họ tràn đầy tự tin.
Mọi người trong chúng ta cũng có
cùng tiến tŕnh phát triển, có khác
chăng là ở môi trường thuận lợi hoặc
bất lợi.
Ví dụ, hai em bé cùng vóc dáng và
cùng lứa tuổi được mẹ chở tới trường
học. Một em vừa tới lớp là nhập bọn
và vui vẻ nô đùa… nhưng em kia th́
ôm chặt chân mẹ và sợ hăi khóc thét…
mặc cho mẹ vỗ về “Không sao đâu
con, có ǵ mà sợ?” Và người mẹ
cố tách em đứng lui ra chừng nào,
th́ em lại càng níu áo quần gh́ chặt
vào mẹ, v́ sợ hăi. Mặc cho người mẹ
nhắc nhở rằng em đừng sợ, th́ em lại
càng sợ hơn. Nỗi sợ hăi càng tăng,
càng tồn tại hiện hữu nơi em.
Vậy có phải v́ bẩm sinh mà một em
dạn dĩ, và một em nhút nhát không?
Chắc chắn là không. Em dạn dĩ th́
cũng đă phải trải qua những nỗi sợ
hăi như em kia. Giờ này sở dĩ em có
được sự can đảm và tự tin để làm bạn
với các bạn cùng trường bởi em đă đi
chơi nhiều lần, và những tṛ chơi
gặp mặt chúng bạn đă làm cho em quen
thuộc, và em không c̣n sợ nữa.
Để phân loại bệnh sợ hăi, chúng ta
có thể xem bộ óc con người như một
ngân hàng. Mỗi ngày thu thập dữ kiện
từ những điều tai nghe mắt thấy,
điển h́nh: các em bé ốm yếu ch́a
xương, các cụ già rách rưới lang
thang, các thiếu phụ bơ vơ trong nỗi
đau mất chồng do chiến tranh gây ra…
Các cảnh tượng này càng ngày càng
lớn dần trong ngân hàng trí nhớ, rồi
khi phải suy nghĩ hoặc phải đối diện
với trở ngại, th́ ngân hàng trí nhớ
sẽ hỏi, “Có gặp trở ngại này chưa?”
Tiếp đến ngân hàng trí nhớ sẽ cung
cấp những tin tức liên quan đến vấn
đề đang gặp phải, rồi đào sâu, phân
tích, lượng định, tổng hợp, đúc kết
và đề ra biện pháp giải quyết trở
ngại… theo chiều hướng tốt, xấu, can
đảm, tự tin hay yếu hèn, sợ hăi…
cũng do bởi ngân hàng trí nhớ tích
lũy mà ra.
V́ thế, chúng ta muốn diệt trừ sợ
hăi để xây dựng tự tin, th́ cần thực
hiện hai điều:
– Thu vào ngân hàng trí nhớ của ḿnh
những h́nh ảnh tốt đẹp, hăng hái,
thành công.
– Loại bỏ ngân hàng trí nhớ những
h́nh ảnh xấu xa, ù ĺ, thất bại.
Hăy tập thành thói quen, mỗi đêm
trước khi đi vào giấc ngủ, chúng ta
ôn lại trong trí nhớ về những điều
tốt việc đẹp mà ḿnh đă thấy, đă làm
trong ngày. Và từ đó, chúng ta t́m
kiếm ra nguyên nhân giúp ḿnh vui
sống và làm việc bằng cách thoải mái;
đừng cho những mầm mống bi quan, đen
tối có cơ hội tồn tại trong tâm trí
của ḿnh.
Vẫn biết sợ hăi phát sinh là do tâm
lư, và muốn chữa trị th́ ta phải
dùng tâm lư mới trị liệu được. Nhưng
nhà tâm lư học cũng phải đành bó tay,
nếu người nhiễm bịnh không chịu thực
hiện một điều mà chỉ có chính người
nhiễm bịnh sợ hăi đó mới có khả năng
làm được. Đó là diệt trừ tư tưởng bi
quan, chán nản, tuyệt vọng.
Hầu hết những con bệnh sợ bắt nguồn
từ tư tưởng bi quan, chán nản, tuyệt
vọng, và những cuộc thất bại đă
thường khởi đầu từ bệnh sợ.
Có nhiều gia đ́nh phải đổ vỡ v́ do
bệnh sợ mà ra. Họ sợ nên không dám
đối diện với sự thật. Họ sợ nên
không dám nói ra những điều ḿnh
không vừa ư. Họ sợ nên họ bị rơi
xuống vực thẳm của tuyệt vọng.
Và cũng bởi chính bênh sợ, mà nó đă
tạo nên những thiên t́nh sử đẫm lệ,
những khúc bi ai khôn tả. Cũng v́ sợ,
mà khi ta yêu không dám tỏ t́nh.
Cũng v́ sợ, mà để cho người yêu bước
lên xe hoa về nhà chồng, th́ lúc đó
ta âm thầm đau khổ, ôm mối t́nh sầu
và oán trách đất trời sao nỡ gây
cảnh éo le, phân ly, bẽ bàng.
Có nhiều người sợ nên đă bỏ lỡ cơ
hội tiến thân. Trong nghề nghiệp
hoặc ngoài xă hội, có nhiều người sợ
rằng ḿnh kém khả năng, không dám
đương đầu với vai tṛ được giao phó.
Có nhiều người sợ bạo quyền đến nỗi
từ bỏ cả bạn bè thân thiết, không
dám đến tiếp xúc, không dám nghe đến
việc bàn thảo kế hoạch tổ chức hay
cộng tác đấu tranh biểu t́nh.
Tại sao người ta lại sợ kém khả năng?
– Bởi vỉ họ thiếu tự tin.
Tại sao “người sợ người?” – Bởi v́
họ thiếu tự chủ.
Tôi xin đơn cử một mẫu người diệt sợ
hăi để thành công lớn nhất, đó là
nhân vật lịch sử Lư Quang Diệu thủ
tướng của Singapore. Muốn t́m hiểu
ông Diệu xóa tan nỗi sợ như thế nào,
chúng ta hăy xem lại một phần đời
sống cũng như sinh hoạt chính trị
của ông.
Lư Quang Diệu biết mở mắt và nh́n ra
thế giới bên ngoài, từ một buổi sáng
giông tố của ngày Thứ Hai, Tháng Hai,
năm 1942, khi thiết đoàn chiến xa
Nhật Bản nghiền nát mộng xâm lăng
của thực dân Anh tại bán đảo
Singapore, một vùng đất vốn sẵn an
toàn với bao hứa hẹn, th́ nay bỗng
dưng con người lâm cảnh đói khát sợ
hăi.
Quân phiệt Nhật gieo rắc kinh hoàng
vào những tháng ngày cuối cùng của
cuộc chiến. Từng đoàn người lũ lượt
bị, bắt tải lên xe với bao kinh
hoàng trên nét mặt. Trong nhóm những
người bị bắt và kinh hăi ấy, có
chàng thanh niên Lư Quang Diệu,
chàng nghĩ rằng nếu ḿnh lại khuất
phục quân xâm lược, th́ chàng sẽ
chẳng c̣n có cơ hội trở về… Đang lúc
căng thẳng, lo âu, bối rối th́ chàng
họ Lư quyết định trốn trại… và những
người bị bắt hôm ấy đă bị quân Nhật
tàn sát ngay sau đó.
Lư Quang Diệu đă thoát chết, từ đó
ông đă không quên bao nỗi kinh hoàng
khiếp sợ của những người đồng hương
với ông, trước họng súng bạo nghịch,
phản văn minh, sử dụng luật rừng mà
chém giết của đám quân phiệt Nhật.
Sau chiến tranh, Lư Quang Diệu vào
học đại học Cambridge ở Anh Quốc,
tốt nghiệp và trở về đấy nước vào
năm 1950, từ một thành viên b́nh
thường của Đảng Quốc Gia
(Nationalist Party), ông đă diệt sợ
hăi, đă nhiệt t́nh và hăng say hoạt
động để tự tạo cho ḿnh thành người
lănh đạo tên tuổi.
Lư Quang Diệu tự tin vào khả năng
biện luận của ḿnh, nên ông đă đứng
ra tố cáo chế độ theo chủ nghĩa xă
hội (socialism) và chủ nghĩa thực
dân (colonialism) đă làm cho nước
ông nghèo nàn, tụt hậu và chậm tiến.
Sau 9 năm tranh đấu cho độc lập của
xứ sở, năm 1959 Lư Quang Diệu chiếm
chức thủ tướng, và thành lập ra Đảng
Nhân Dân Hành Động (People's Action
Party). Từ đó ông đă thành công
trong vai tṛ của một nhà lănh đạo
Singapore, làm cho nước này trở
thành giàu đẹp và tiếng tăm vang dội
khu vực Châu Á rồi lan ra khắp thế
giới.
Thủ tướng Lư Quang Diệu về hưu năm
1990, sau 31 năm lănh đạo đất nước.
Ông c̣n đó để chứng kiến tương lai
rực rỡ của Singapore với niềm tự hào
và hănh diện, mà ông đă hành xử bài
học diệt sợ hăi trong cuộc đời của
ông.
(C̣n nữa)
Lynnwood ngày 21 tháng 10 năm
2007
© DCVOnline