Diễn
văn của Tổng thống Bush về Tự do tại Praha, Cộng Hoà
Czech
Tiểu Phi dịch - 6/6/2007
Thưa Tổng thống Ilves,
Ngoại trưởng Schwarzenberg và các vị khách quý:
Laura và tôi rất vui mừng được trở lại Praha, và
chúng tôi cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt tại sảnh
đường lịch sử này. Ngày mai tôi sẽ tham dự hội nghị
thượng đỉnh G-8, nơi tôi gặp lãnh đạo những nước có
nền kinh tế mạnh nhất thế giới. Chiều hôm nay, tôi
đứng bên những con người đại diện cho một quyền lực
thậm chí còn lớn hơn - quyền lực của lương tâm con
người.
Trong căn phòng này có mặt
các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động dân chủ của 17
nước từ năm châu lục. Các bạn có những truyền thống khác
nhau, theo những tôn giáo khác nhau, và các bạn đối mặt
với những thách thức khác nhau. Nhưng các bạn đoàn kết
lại vì một niềm tin không dao động: tự do là quyền không
thương lượng được của tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em,
và con đường dẫn đến hoà bình vĩnh cửu cho thế giới của
chúng ta là tự do. (Vỗ tay.)
Ý tưởng về cuộc gặp mặt này xuất phát từ ba nhà chủ
trương tự do lớn nhất của thời đại chúng ta: Jose Maria
Aznar [1] ,
Václav Havel và Natan Sharansky
[2] . Tôi xin
được cảm ơn ba vị đó đã mời tôi đến nói chuyện tại cuộc
họp mặt hào hứng này, và vì họ đã cho thế giới thấy rằng
một cá nhân, với niềm tin đạo đức trong sáng và lòng
dũng cảm, có thể thay đổi được dòng chảy của lịch sử.
Việc chúng ta gặp mặt tại
Cộng hoà Czech - một nước nằm ở trung tâm Châu Âu và
trung tâm cuộc đấu tranh cho tự do tại lục địa này - hết
sức thích hợp. Chín thập niên trước, Tomas Masaryk
[3] tuyên bố
rằng nền độc lập của Czechoslovakia dựa trên “những tư
tưởng về dân chủ hiện đại”. Nền dân chủ đó đã bị gián
đoạn, trước hết là do chế độ Nazi, rồi đến cộng sản;
những người này đã chiếm đoạt quyền lực trong một vụ lật
đổ đáng xấu hổ - với cái chết của Ngoại trưởng ngay tại
khuôn viên của cung điện này.
Trong suốt đêm dài đen tối chiếm đóng của Liên Xô, không
hề có nghi ngờ nào về gương mặt thật của dân tộc này.
Thế giới đã được thấy gương mặt ấy trong cuộc cải cách
mùa Xuân Praha [4]
, và những đòi hỏi căn bản trong Hiến chương 77. Người
ta đã đáp lại những nỗ lực này bằng xe tăng, dùi cui và
các cuộc bắt bớ của mật vụ. Nhưng bạo lực không được nói
lời cuối cùng. Vào năm 1989, hàng ngàn người đã tập
trung ở Quảng trường Wenceslas đòi tự do. Các nhà hát
như Magic Lantern (Ðèn lồng Kỳ diệu) trở thành trụ sở
của các nhà bất đồng chính kiến. Công nhân rời nhà máy
để ủng hộ đình công. Và chỉ trong vài tuần lễ, chính thể
(cộng sản) đã sụp đổ. Váccla Havel từ một người tù trở
thành người đứng đầu nhà nước (mới). Và người dân
Czechoslovakia đã hạ Bức màn Sắt xuống bằng một cuộc
Cách mạng Nhung.
Ðằng sau những thành tựu lạ
thường này là lễ khải hoàn của tự do trong trận chiến tư
tưởng. Người cộng sản có một lý tưởng đế quốc, tuyên bố
rằng họ biết hướng đi của lịch sử. Nhưng cuối cùng thì
họ đã bị lật đổ bởi những con người bình thường muốn
sống cuộc đời của mình, muốn tôn thờ Chúa trời của mình,
và muốn nói sự thật cho con cái mình nghe. Người cộng
sản có luật lệ hà khắc của Brezhnev, Honecker, và
Ceausescu. Nhưng rốt cuộc, họ không địch lại nổi viễn
kiến của Walęsa [5]
và Havel, sự bất tuân lệnh của Sakharov
[6] và
Sharansky, sự kiên quyết của Reagan và Thatcher, và sự
làm chứng can đảm của John Paul. Từ kinh nghiệm này, ta
rút ra một bài học rõ ràng: Người ta có thể cưỡng lại tự
do, có thể trì hoãn (tiến trình) tự do, nhưng không thể
phủ nhận tự do.
Trong những năm sau giải phóng, các nước Ðông Âu và
Trung Âu đã trải qua nhiều khó khăn trong quá trình
chuyển đổi sang dân chủ. Các nhà lãnh đạo thực hiện
những cải cách cứng rắn cần thiết để gia nhập NATO và
Cộng đồng Âu châu. Công dân đòi tự do ở những vùng
Balkans và xa hơn nữa. Và giờ đây, sau nhiều thế kỷ
chiến tranh và đau khổ, cuối cùng lục địa châu Âu đã có
được hoà bình.
Trong kỷ nguyên mới này, có
những mối đe doạ tự do mới. Ở những góc tăm tối và đàn
áp trên thế giới, nhiều thế hệ lớn lên mà không có tiếng
nói trong chính phủ và không có hi vọng vào tương lai.
Cuộc sống bị áp bức của họ là cái nôi cho lòng thù hận.
Và với nhiều người, thù hận sẽ biến thành cấp tiến, quá
khích và bạo lực. Thế giới đã chứng kiến hậu quả vụ 11
tháng Chín năm 2001, khi bọn khủng bố ở Afghanistan đã
gửi 19 quân tự sát sang sát hại gần 3000 người vô tội ở
Mỹ.
Với một số người, cuộc tấn công này cần được đáp trả
trong phạm vi hẹp. Trên thực tế, vụ 11 tháng 9 là bằng
chứng cho thấy một mối nguy rộng lớn hơn nhiều - một
phong trào quốc tế của những kẻ cực đoan Hồi giáo bạo
lực đe doạ người dân tự do ở khắp nơi. Tham vọng của
những kẻ quá khích này là xây dựng một đế chế toàn trị
trải khắp phần đất của người Hồi giáo hiện nay và trước
đây, bao gồm cả một phần của châu Âu. Chiến thuật của họ
nhằm đạt được mục đích đó là đe doạ và buộc thế giới đầu
hàng bằng một chiến dịch khủng bố giết người tàn nhẫn.
Ðể đương đầu với kẻ thù này,
Mỹ và các nước đồng minh đã tấn công bằng quân sự, tin
tức tình báo và việc thực thi luật pháp. Nhưng trận
chiến này vượt ra ngoài khuôn khổ của xung đột quân sự.
Giống như Chiến tranh Lạnh, đây là cuộc đọ sức về tư
tưởng giữa hai quan điểm khác nhau cơ bản về nhân loại.
Một bên là những kẻ quá khích; họ hứa hẹn thiên đường,
nhưng trên thực tế thì đánh người nơi công cộng, áp bức
phụ nữ và đánh bom tự sát. Phía bên kia là một số lớn
những con người ôn hoà – bao gồm hàng triệu người trong
thế giới Hồi giáo; những người này tin rằng mỗi cuộc đời
con người đều có nhân cách và giá trị mà không một sức
mạnh nào trên Trái đất này có thể tước đoạt nổi.
Vũ khí mạnh nhất trong cuộc
chiến đấu chống lại chủ nghĩa cực đoan không phải là bom
đạn, mà là lời kêu gọi tự do phổ quát. Tự do là thiết kế
của con Tạo, và niềm khao khát của mọi tâm hồn. Tự do là
cách tốt nhất để thả cương sức sáng tạo và tiềm năng
kinh tế của một dân tộc. Tự do là trật tự duy nhất của
một xã hội dẫn đến công bằng. Và tự do của con người là
cách duy nhất để đạt được quyền con người.
Mở rộng tự do không chỉ là mệnh lệnh đạo đức – nó còn là
cách thiết thực duy nhất để bảo vệ người dân chúng ta về
mặt lâu dài. Nhiều năm trước đây, Andrei Sakharov đã
cảnh báo rằng một đất nước không tôn trọng quyền của
chính người dân của mình sẽ không đáp lại quyền của nước
láng giềng. Lịch sử đã chứng minh ông đúng. Những chính
phủ chịu trách nhiệm trước người dân của mình không tấn
công lẫn nhau. Các nền dân chủ giải quyết vấn đề bằng
các phương pháp chính trị, chứ không phải bằng cách đổ
lỗi cho những con dê tế thần bên ngoài. Giới thanh niên
có thể công khai bất đồng quan điểm với lãnh đạo thường
ít nuôi dưỡng những lý tưởng bạo lực hơn. Và những quốc
gia quan tâm đến tự do cho người dân nước mình sẽ không
ủng hộ những kẻ cực đoan - họ sẽ tham gia (vào cuộc
chiến) đánh bại chúng.
Với tất cả những lý do này, Hoa Kỳ cam kết đẩy mạnh tự
do và dân chủ như một lựa chọn cao quý bên cạnh áp bức
và chủ nghĩa cấp tiến. (Vỗ tay). Và chúng ta có một mục
tiêu lịch sử trước mắt. Trong diễn từ nhậm chức lần thứ
hai, tôi đã thề rằng mục tiêu cuối cùng của nước Mỹ là
chấm dứt sự chuyên chế trên thế giới này. Một số người
đã nói rằng tuyên bố đó khiến tôi đủ tư cách là một
“tổng thống bất đồng chính kiến”. Nếu đứng lên cho tự do
trên thế giới khiến tôi trở thành một nhà bất đồng chính
kiến, tôi sẽ rất tự hào được mang danh hiệu đó. (Vỗ tay).
Nước Mỹ theo đuổi chương trình nghị sự tự do bằng nhiều
cách khác nhau – có những cách nghe và nhìn thấy được,
những cách khác được thực hiện trong lặng lẽ và khuất
sau tầm nhìn. Chấm dứt sự chuyên chế đòi hỏi sự ủng hộ
cho các thế lực lương tâm đang bào mòn những xã hội áp
bức từ bên trong. Nhà bất đồng chính kiến Liên Xô Andrei
Amalrik đã từng so sánh một nhà nước chuyên chế như một
người lính luôn chĩa súng vào kẻ thù – rốt cuộc cánh tay
ấy sẽ mỏi mệt và người tù trốn thoát. Vai trò của thế
giới tự do là gây áp lực cho những cánh tay chuyên chế
trên thế giới – và tăng cường sức mạnh của những tù nhân
đang ra sức đẩy mạnh sự sụp đổ (của nhà nước chuyên chế
ấy).
Vì vậy tôi đã trực tiếp gặp
các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động dân chủ từ
những nền độc tài tồi tệ nhất trên thế giới – bao gồm
Belarus, Miến Ðiện, Cu Ba, Bắc Hàn, Sudan và Zimbabwe.
Tại hội nghị này, tôi chờ đợi được tiếp xúc với các nhà
bất đồng chính kiến khác, bao gồm một số người đến từ
Iran và Syria. Một trong số những người này là Mamoun
Homsi. Năm 2001, là một nghị viên độc lập trong nghị
viện Syria, ông chỉ giản dị ra một tuyên bố yêu cầu
chính phủ bắt đầu tôn trọng nhân quyền. Vì hành động
hoàn toàn hoà bình này, ông đã bị bắt và bị bỏ tù vài
năm, bên cạnh những ủng hộ viên vô tội khác cho một đất
nước Syria tự do.
Một nhà bất đồng chính kiến khác tôi sẽ gặp là Rebiyah
Kadeer người Trung Quốc. Con trai bà đang bị bỏ tù, một
hành động mà chúng tôi tin rằng nhằm trả đũa các hoạt
động vì nhân quyền của bà. Tài năng của những người như
Rebiyah là nguồn tài nguyên quý giá nhất của dân tộc họ,
quý hơn vũ khí quân đội hay những mỏ dầu dưới lòng đất
của họ rất nhiều. Nước Mỹ kêu gọi những nước đang áp bức
bất đồng quan điểm chấm dứt việc đàn áp, tin tưởng vào
người dân và trao cho công dân nước họ quyền tự do họ
xứng đáng được hưởng. (Vỗ tay).
Có nhiều nhà bất đồng chính kiến không đến tham gia với
chúng ta vì họ đang bị bỏ tù hay bị quản chế tại gia một
cách bất công. Tôi mong chờ tới ngày mà, tại cuộc hội
thảo tương tự như thế này, sẽ có Alexander Kozulin của
Belarus, Aung San Suu Kyi của Miến Ðiện, Oscar Elias
Biscet của Cuba, Linh mục Nguyễn Văn Lý của Việt Nam,
Ayman Nour của Ai Cập. (Vỗ tay.) Con gái của một trong
những tù nhân chính trị đó hiện đang có mặt trong gian
phòng này. Tôi muốn nói với cô, và với tất cả các gia
đình của họ: Tôi cảm ơn lòng can đảm của bạn. Tôi cầu
nguyện cho bạn đỡ khổ và giữ vững sức mạnh. Và tôi kêu
gọi việc thả người thân yêu của các bạn ngay lập tức và
vô điều kiện. (Vỗ tay.)
Trong con mắt của nước Mỹ, các nhà bất đồng chính kiến
dân chủ ngày hôm nay chính là các nhà lãnh đạo dân chủ
tương lai. Vì vậy, chúng tôi đang có những biện pháp mới
nhằm tăng cường sự ủng hộ của mình. Mới đây, chúng tôi
đã thành lập Quỹ Bảo vệ Nhân quyền (Human Rights
Defenders Fund) để giúp chi trả phí tổn thuê luật sư bào
chữa và chi phí y tế của các nhà hoạt động (dân chủ) bị
các chính phủ áp bức bắt giam hoặc đánh đập. Tôi rất ủng
hộ Văn kiện Praha (Praha Document) mà hội nghị này dự
định đưa ra, trong đó tuyên bố rằng “việc bảo vệ quyền
con người là cực kỳ cấp thiết đối với nền hoà bình và an
ninh quốc tế.” Và kiên định với mục đích của tuyên bố
này, tôi đã yêu cầu ngoại trưởng Rice gửi chỉ thị tới
tất cả các đại sứ Mỹ ở những nước không có tự do: Hãy
tìm gặp các nhà hoạt động dân chủ. Hãy tìm gặp những
người đang đòi hỏi quyền con người. (Vỗ tay.)
Người dân sống trong nền
chuyên chế cần được biết rằng họ không bị quên lãng. Bắc
Hàn sống trong một xã hội khép kín, nơi những tiếng nói
bất đồng bị đàn áp dã man, và người dân bị cắt đứt khỏi
những người anh chị em của mình ở miền nam. Người Iran
là một dân tộc vĩ đại, xứng đáng được làm chủ tương lai
của mình, nhưng họ đã không có tự do chỉ vì một nhóm nhỏ
cực đoan đang theo đuổi chương trình vũ khí hạt nhân,
ngăn cản đất nước họ giành được chỗ đứng chính đáng của
mình trong khối thịnh vượng. Người Cu Ba đang cần tự do
đến mức tuyệt vọng – và trong khi dân tộc ấy đang trải
qua thời kỳ chuyển đổi, chúng ta phải đòi hỏi tự do bầu
cử, tự do ngôn luận và tự do hội họp. (Vỗ tay.) Ở Sudan,
tự do bị chối bỏ và những quyền con người cơ bản nhất bị
vi phạm bởi một chính phủ đã tiến hành tội ác diệt chủng
chống lại chính công dân của mình. Thông điệp tôi muốn
gửi đến tất cả những người đang phải chịu sự chuyên chế
là: Chúng tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho những kẻ áp
bức các bạn. Chúng tôi luôn ủng hộ tự do của các bạn. (Vỗ
tay.)
Tự do cũng đang bị đe doạ ở những nước đã có tiến bộ. Ở
Venezuela, các nhà lãnh đạo được bầu ra đã lợi dụng chủ
nghĩa dân tuý nông cạn để giải thể các tổ chức dân chủ
và xiết chặt quyền lực. Chính phủ Uzbekistan tiếp tục áp
bức những tiếng nói độc lập bằng cách bỏ tù các nhà hoạt
động nhân quyền. Và gần đây, Việt Nam đã bắt và bỏ tù
một số nhà hoạt động chính trị và tôn giáo hoà bình.
Những diễn tiến này khiến ta nản lòng, nhưng có nhiều lý
do khiến ta lạc quan hơn. Vào đầu thập niên 1980, chỉ có
45 nền (nước) dân chủ trên Trái đất này. Hiện nay đã có
hơn 120 nền dân chủ - chưa khi nào có nhiều người được
sống trong tự do bằng bây giờ. Và nghĩa vụ của những
người đang được hưởng phúc lành tự do là giúp đỡ những
người đang đấu tranh để thiết lập xã hội tự do của họ.
Vì vậy nước Mỹ đã tăng gần gấp đôi ngân sách cho các dự
án dân chủ. Chúng tôi làm việc cùng các thành viên trong
nhóm G-8 nhằm thúc đẩy sự phát triển của một xã hội dân
sự mạnh mẽ ở Trung Ðông qua những sáng kiến như Diễn đàn
vì Tương lai (Forum for the Future). Chúng tôi hợp tác
sát cánh với các nền dân chủ mới ở Ukraine, Georgia và
Kyrgyzstan. Chúng tôi chúc mừng người dân Yemen về cuộc
bầu cử tổng thống bước ngoặt của họ, và người dân Kuwait
vì lần đầu tiên phụ nữ đã được đi bầu và được ra ứng cử.
(Vỗ tay.) Chúng tôi kiên quyết ủng hộ người dân Lebanon,
Afghanistan và Iraq trong công cuộc bảo vệ những lợi ích
dân chủ chống lại những kẻ thù quá khích. (Vỗ tay.) Tất
cả những người này đang hi sinh rất nhiều cho tự do. Họ
xứng đáng với lòng khâm phục mà thế giới tự do dành cho
họ, và họ xứng đáng được hưởng sự hỗ trợ không dao động
của chúng ta. (Vỗ tay.)
Nước Mỹ cũng sử dụng ảnh hưởng của mình để thuyết phục
các nước cùng phe đáng quý như Ai Cập, Saudi Arabia và
Pakistan tiến tới tự do. Những dân tộc này đã dũng cảm
đứng lên và hành động kiên quyết đương đầu với bọn quá
khích, và đã thực hiện một số biện pháp để mở rộng tự do
và tính minh bạch. Nhưng họ còn phải đi một đoạn đường
dài. Nước Mỹ sẽ tiếp tục thúc ép những nước như vậy mở
rộng hệ thống chính trị và cho người dân có tiếng nói
hơn. Rõ ràng là điều này gây ra căng thẳng. Nhưng quan
hệ của chúng tôi với những nước này đủ rộng và đủ sâu,
và có thể chịu được. Cũng giống như quan hệ với Nam Hàn
và Ðài Loan trong Chiến tranh Lạnh đã cho thấy, nước Mỹ
có thể duy trì tình bạn với một nước, đồng thời thúc đẩy
nước ấy tiến tới dân chủ. (Vỗ tay.)
Chúng tôi cũng đang áp dụng
bài học ấy trong quan hệ với Nga và Trung Quốc. (Vỗ tay.)
Nước Mỹ có quan hệ công việc tốt với hai nước này. (Nhưng)
tình bạn của chúng tôi với họ khá phức tạp. Trong những
lĩnh vực mà chúng tôi cùng chia sẻ quan tâm thì chúng
tôi hợp tác với nhau. Trong những lĩnh vực khác, chúng
tôi rất bất đồng ý kiến. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa tin
rằng họ có thể tiếp tục mở rộng nền kinh tế mà không cần
phải mở cửa hệ thống chính trị. Chúng tôi không đồng ý.
(Vỗ tay.) Ở Nga, những cải cách một thời được hứa hẹn là
sẽ trao quyền cho công dân hiện bị ngưng trệ, với những
biểu hiện đáng lo đối với phát triển dân chủ. Một phần
của một mối quan hệ tốt là khả năng đối thoại cởi mở về
những bất đồng quan điểm. Vì vậy, nước Mỹ sẽ tiếp tục
xây dựng quan hệ với hai nước này – và chúng tôi sẽ làm
như vậy mà vẫn không từ bỏ những nguyên tắc hay giá trị
của mình. (Vỗ tay.)
Chúng tôi hiểu rằng các xã hội tự do hình thành với
những tốc độ khác nhau ở những nơi khác nhau. Một trong
những cái hay của dân chủ là nó phản ánh lịch sử và
truyền thống đặc thù của địa phương. Nhưng cũng có những
yếu tố căn bản mà tất cả các nền dân chủ đều chia sẻ -
tự do ngôn luận, tôn giáo, báo chí và hội họp; luật pháp
được các toà án độc lập thực thi; quyền tư hữu tài sản;
và các đảng phái chính trị cạnh tranh trong những cuộc
bầu cử tự do và công bằng. (Vỗ tay.) Các quyền và các
thể chế này là nền tảng cho phẩm giá của con người, và
những nước đang tìm đường đến tự do hẳn phải tìm thấy
nơi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ một người bạn trung thành.
Mở rộng tầm vươn tới tự do
là một sứ mệnh giúp đoàn kết các nền dân chủ trên thế
giới lại. Những dân tộc vẫn còn ký ức tươi rói về áp bức
chuyên chế đã góp phần vào những đóng góp vĩ đại nhất.
Tôi cảm kích sự ủng hộ mà Cộng hoà Czech đã dành cho các
dự án nhân quyền ở Belarus, Miến Ðiện và Cuba. Tôi cảm
ơn các nước Ðức, Ba Lan, Cộng hoà Czech, Hungary,
Slovenia, Georgia, Lihuania, Estonia và Croatia vì đã
đóng góp vào Quỹ Dân chủ Liên hợp quốc (United Nations
Democracy Fund) mới thành lập. Tôi biết ơn nhiều nền dân
chủ mới ở Trung và Ðông Âu đã đưa quân sang Afghanistan
và Iraq. Tôi cảm kích những nước này sẵn lòng thực hiện
công việc khó khăn để giúp những người muốn có tự do có
thể sống trong một xã hội tự do.
Bằng tất cả những cách ấy,
chương trình nghị sự tự do đang tạo ra những thay đổi.
Cho đến giờ, đây là một việc khó, và sắp tới cũng sẽ
không dễ hơn. Sẽ tiếp tục có những thành công và thất
bại, tiến bộ và thoái bộ. Việc chấm dứt chế độ chuyên
chế không thể thành công trong một đêm. Và tất nhiên, có
những người chỉ trích mục tiêu này.
Có người nói rằng chấm dứt
chuyên chế đồng nghĩa với việc “áp đặt giá trị của chúng
ta” lên những người không chia sẻ những giá trị đó, hoặc
rằng có những dân tộc sống ở những vùng trên thế giới
không thể có tự do. Những lý luận kiểu này bị bác bỏ bởi
thực tế là mỗi khi con người được quyền lựa chọn, họ
luôn chọn tự do. Chúng ta thấy điều này khi người dân Mỹ
- Latin biến các nền độc tài thành dân chủ, người dân
Nam Phi thay chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) bằng
một xã hội tự do, và người dân Indonesia chấm dứt sự cầm
quyền độc tài lâu năm ở nước họ. Chúng ta thấy điều này
khi người dân Ukrain quấn khăn vàng đòi đếm lá phiếu của
họ. Chúng ta thấy điều này khi hàng triệu người dân
Afghanistan và người Iraq đã bất chấp (đe doạ của) bọn
khủng bố để bầu ra những chính phủ tự do. Lời nói của
một người Iraq chỉ còn một chân với phóng viên tại một
điểm bầu cử ở Baghdad làm tôi kinh ngạc, “Nếu có phải bò
thì tôi cũng sẽ đi (bầu).” Tôi xin được hỏi những người
chỉ trích (mục tiêu dân chủ), có phải là người Iraq ấy
bị dân chủ áp đặt? Có phải tự do là một giá trị mà ông
ta không chia sẻ? Sự thật là chỉ những kẻ quá khích, cấp
tiến và chuyên chế mới phải áp đặt các giá trị của họ. (Vỗ
tay.)
Và đó là lý do tại sao người cộng sản đã dập tắt Mùa
Xuân Praha, ném các nhà viết kịch vô tội vào tù và run
lên trước sự có mặt của một Giáo hoàng người Ba Lan.
Lịch sử đã chỉ ra rằng cuối cùng, bao giờ tự do cũng
chiến thắng sợ hãi. Và nếu có cơ hội, tự do sẽ chiến
thắng sợ hãi trong mọi dân tộc trên Trái đất này. (Vỗ
tay.)
Một phản đối khách quan khác là chấm dứt chuyên chế sẽ
gây ra hỗn loạn. Các nhà chỉ trích đã dùng bạo lực ở
Afghanistan, hoặc Iraq, hoặc Lebanon làm bằng chứng là
tự do đã dẫn đến việc người dân ít được an toàn hơn.
Nhưng hãy nhìn xem ai là kẻ gây ra bạo lực. Ðó là bọn
khủng bố, bọn quá khích. Không phải tình cờ mà bọn họ
nhằm vào các nền dân chủ non trẻ ở Trung Ðông. Họ biết
rằng thành công của các xã hội tự do là đe doạ ghê gớm
đối với tham vọng - và sự sống còn của họ. Sự thật kẻ
thù đang đánh lại chúng ta không phải là lý do khiến
chúng ta nghi ngờ vào dân chủ. Hiển nhiên bọn họ đã nhận
thấy sức mạnh của dân chủ. Hiển nhiên chúng ta đang tham
chiến. Và hiển nhiên là các dân tộc tự do phải làm điều
cần thiết để giành được (dân chủ). (Vỗ tay.)
Nhưng một số vẫn biện luận rằng mục tiêu phải là ổn định,
đặc biệt ở Trung Ðông. Vấn đề là việc theo đuổi ổn định
mà phải hy sinh tự do không hề dẫn đến hoà bình – nó dẫn
đến vụ 11 tháng Chín năm 2001. (Vỗ tay.) Chính sách chịu
đựng các nền chuyên chế là một thất bại về chiến thuật
và đạo đức. Ðó là một lỗi lầm mà thế giới không thể lặp
lại trong thế kỷ thứ 21 này.
Những người khác sợ rằng dân chủ sẽ giúp cho các thế lực
nguy hiểm lên nắm quyền, chẳng hạn như nhóm Hamas ở Lãnh
thổ Palestine. Các cuộc bầu cử không phải lúc nào cũng
có kết quả như ta muốn. Nhưng dân chủ không phải chỉ là
một chuyến đi duy nhất đến hòm phiếu. Dân chủ đòi hỏi
các đảng phái đối lập có ý nghĩa, một xã hội dân sự mạnh
mẽ, một chính phủ thực thi luật và đáp ứng đòi hỏi của
người dân. Các cuộc bầu cử có thể giúp đẩy nhanh việc
thành lập những thể chế đó. Trong một nước dân chủ,
người dân sẽ không bỏ phiếu cho một cuộc sống không
ngừng bạo lực. Ðể duy trì quyền lực, những người được
bầu phải nghe ý kiến của người dân, và theo đuổi khát
vọng hoà bình của họ - nếu không, trong các nước dân chủ,
cử tri sẽ thay thế họ qua các cuộc bầu cử tự do.
Và cuối cùng, có những chống đối (tiến trình dân chủ)
cho rằng chấm dứt sự chuyên chế là không thực tế. Họ
biện luận việc mở rộng dân chủ quanh thế giới đơn giản
là khó đến mức không thể thực hiện nổi. Ðiều này chẳng
có gì mới. Trong lịch sử, chúng ta đã nghe lời chỉ trích
này. Trong mọi giai đoạn của Chiến tranh Lạnh, có những
người biện luận rằng Bức tường Berlin là vĩnh viễn, và
người dân phía sau Bức màn Sắt sẽ không bao giờ thắng
được những kẻ áp bức họ. Lịch sử đã gửi một thông điệp
khác hẳn.
Bài học ở đây là sẽ luôn có những người nghi ngờ vào tự
do. Nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện. Vẫn có
những người như các bạn, và những người thân yêu mà các
bạn đại diện - những người có can đảm mạo hiểm tất cả vì
lý tưởng của các bạn. Trong bài phát biểu đầu tiên ở
cương vị Tổng thống, Václav Havel tuyên bố, “Hỡi nhân
dân, chính phủ đã quay về với các bạn!” Ông lặp lại diễn
thuyết đầu tiên của Tomas Masaryk – còn ông này thì
trích lời của Comenius
[7] , một thầy giáo người Czech ở thế kỷ 17.
Thông điệp của ông là tự do là vô tận. Nó không thuộc về
một chính phủ hoặc một thế hệ. Tự do là ước mơ và quyền
của mỗi con người ở mọi lứa tuổi trong mọi dân tộc. (Vỗ
tay.)
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tin
tưởng sâu sắc vào thông điệp đó. Ðó là nguồn cảm hứng
cho các nhà sáng lập nước chúng tôi, khi tuyên bố rằng
“mọi người sinh ra đều bình đẳng.” Ðó là niềm tin đã dẫn
chúng tôi đến việc giúp giải phóng lục địa này, và sát
cánh với các dân tộc bị cầm tù trong cuộc đấu tranh lâu
dài của họ. Ðó là chân lý chỉ đạo dân tộc chúng tôi
chống lại những kẻ cấp tiến, quá khích, khủng bố và
chuyên chế trên thế giới hôm nay. Và đó là lý do tôi đặt
niềm tin tưởng vững chắc vào những người đang có mặt
trong gian phòng này.
Tôi rời Praha với lòng tin chắc rằng chính nghĩa tự do
không hề mệt mỏi, và tương lai của nó đang nằm trong
những bàn tay tốt nhất. Với lòng tin không thể bẻ gãy
được vào sức mạnh của tự do, các bạn sẽ truyền cảm hứng
cho người dân nước các bạn, các bạn sẽ dẫn dắt dân tộc
mình, và các bạn sẽ thay đổi thế giới.
Cảm ơn vì đã mời tôi đến đây. Cầu Chúa ban phúc cho các
bạn. (Vỗ tay.)
Bản tiếng Việt © 2007 talawas
[1]Chính
trị gia người Tây Ban Nha, là thủ tướng Tây Ban Nha từ
1996-2004
[2]Chính trị
gia và nhà văn người Do Thái, nổi tiếng bất đồng chính
kiến dưới thời Liên Xô trước đây
[3]Tomáš
Masaryk (1850-1937): Tổng thống và người sáng lập ra
Cộng hoà Czechoslovakia
[4]Mùa Xuân
Praha 1968
[5]Lech Walęsa:
nhà chính trị và hoạt động nhân quyền người Ba Lan
[6]Andrei
Sakharov (1921-1989): nhà vật lý hạt nhân, nhà bất đồng
chính kiến của Liên Xô trước đây
[7]John Amos
Comenius (1592-1670): nhà giáo dục, khoa học, và nhà văn
người Czech. Ông được xem như người thầy giáo của dân
tộc.