|
|
Chính quyền nhân dân
khủng bố nhân dân
Đỗ Thái Nhiên
Nhà cầm quyền CSViệt Nam có thói quen
mang hai chữ “nhân dân” gắn liền với danh xưng của tất cả những tổ
chức thống thuộc nhà nước: Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Viện
Kiểm Sát Nhân Dân, Ṭa Án Nhân dân v.v... Sử dụng danh xưng như vừa
kể, CSViệt Nam có chủ ư nói lớn vào tai mọi người rằng: nhà cầm
quyền CSViệt Nam hiển nhiên là nhà cầm quyền của nhân dân, họ đích
thực là “chính quyền nhân dân”. Thế nhưng trong t́nh huống chính trị
nào “chính quyền nhân dân” lại phải quay ra khủng bố nhân dân? Trả
lời câu hỏi kia tức là chúng ta đi t́m hiểu ba vấn đề:
_ Các yếu-tố-tội-phạm của tội ác khủng bố.
_ Ư nghĩa pháp lư của vụ án “chính quyền nhân dân khủng bố nhân dân”.
_ Lư do thầm kín đằng sau vụ án khủng bố.
I - Các yếu-tố-tội-phạm của tội ác khủng bố.
Vận hành của xă hội là một cuộc đấu tranh bất tận giữa hai nhu cầu
vừa mâu thuẫn lẫn nhau vừa phải nương vào nhau để cùng tồn tại: Bên
này là đời sống tự do và ổn định của cá nhân, bên kia là an ninh và
trật tự xă hộị.
Nhằm giúp cho đôi bên được chung sống trong ḥa b́nh, h́nh luật bao
giờ cũng tuyệt đối đề cao nguyên tắc “vô luật bất thành tội”. Nguyên
tắc này có chủ đích ngăn cấm nhà cầm quyền độc tài không được phép
tùy tiện bắt bớ giam cầm những công dân bất đồng chính kiến với giới
cai trị. Để được gọi là luật th́ luật phải là những bản văn có nội
dung cụ thể với đầy đủ chi tiết cần thiết. Thiếu chi tiết và cụ thể,
luật sẽ trở thành những công cụ nguy hiểm được nhà cầm quyền xử dụng
để áp chế giới bị trị.
Cuối tháng 6/2006, nhà cầm quyền CSViệt Nam đă ban hành nghị định số
56, hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7/2006. Nghị định này có mục đích
trừng phạt nghiêm khắc các nhà báo nào phạm tội: “xuyên tạc sự thật
lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, vĩ nhân,
anh hùng dân tộc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức.”
Luật 56 không hề nói rơ thế nào là “sự thật lịch sử”? Cá nhân hay
đoàn thể nào là giới chức có thẩm quyền xác định sự thật lịch sử?
Thế nào là cách mạng? Phải chăng cách mạng là dùng “văn hóa” Marx
Lenine để hủy diệt văn hóa dân tộc? Phải chăng cách mạng là âm thầm
từ giă giai cấp vô sản để ngạo nghễ bước vào cung điện của tư bản đỏ?
Luật 56 chính là một mớ ngôn từ vừa mơ hồ vừa vô nghĩạ. Trong mơ hồ
và vô nghĩa kia chỉ có một sự kiện xuất hiện rất rơ nét, đó là lưỡi
hái của tử thần dành cho quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Nhằm tránh cho những luận bàn về tội ác khủng bố rơi vào t́nh trạng
mơ hồ và vô nghĩa kiểu luật 56, bài viết này xin đi ngay vào phần
phân tích các yếu-tố tội-phạm cấu thành tội ác khủng bố theo đúng kỹ
thuật lư luận nghiêm túc và khoa học của môn học lư góp ư xây dựng
h́nh luật.
Một người hay một tổ chức sẽ phạm tội khủng bố nếu hành động của
các đương sự gồm đủ ba yếu-tố-tội-phạm sau đây:
• Yếu tố thứ nhất: Phạm nhân xử dụng bạo lực bất hợp pháp.
Bất hợp pháp là trái với luật pháp hoặc trái với công bằng và lẽ
phải thông thường. Bạo lực thể chất: bắt cóc, tra tấn, giam cầm, sát
hại nạn nhân. Bạo lực tinh thần đe dọa gây nguy hại cho sinh mạng
hay uy tín của nạn nhân. Các loại bạo lực này làm cho nạn nhân cảm
thấy thực sự sợ hăị.
• Yếu tố thứ hai: Khai thác tâm lư sợ hăi nói ở yếu tố thứ
nhất, phạm nhân buộc nạn nhân phải làm hay phải không làm một số
công việc nào đó. Phải giao nạp tài sản cho phạm nhân là một thí dụ
của nhóm chữ “phải làm”. Phải chấm dứt vĩnh viễn hành động đ̣i hỏi
dân chủ đa nguyên là một thí dụ của nhóm chữ “phải không làm”.
• Yếu tố thứ ba: Phạm nhân thực hiện yếu tố thứ nhất và thứ
hai nhằm đoạt thủ một quyền lợi rơ rệt. Quyền lợi ở đây có thể là
một món tài sản, một quyền thống trị, một phần thưởng mà phạm nhân
tin là đương sự sẽ nhận được ở bên kia thế giới...
IỊ Ư nghĩa pháp lư của vụ án
“chính quyền nhân dân khủng bố nhân dân”.
A Trần thuật nội vụ.
Ngày 7 và 8 tháng 8/2006 các cuộc phỏng vấn của phóng viên Việt
Hùng và phóng viên Trà My thuộc đài Á Châu Tự Do dành cho anh em
Trương Quốc Tuấn, Trương Quốc Huy (Saigon, Việt Nam) và cô Lisa Phạm
(South Carolina, Hoa Kỳ) giúp cho công luận được rơ các sự việc sau
đây:
Khoảng giữa năm 2000, Trương Quốc Huy, Trương Quốc Tuấn, Lisa Phạm
và nhiều người trẻ khác bắt đầu hội luận trên một diễn đàn Paltalk.
Họ nói với nhau về những khó khăn của xă hội Việt Nam ngày nay: Nạn
tham nhũng; hố cách biệt giàu nghèo; tự do tín ngưỡng, tự do ngôn
luận bị nghiêm cấm. Bên cạnh những khó khăn ngút ngàn kia bao giờ
cũng là vô số toan tính của giới trẻ Việt Nam nhằm đưa đẩy đất nước
vượt thoát khó khăn, vươn ḿnh phát triển.
Ngày 23/9/2005 cô Lisa Phạm từ South Carolina bay về Saig̣n để tiếp
xúc trực tiếp với những người mà Lisa đă nói chuyện qua Paltalk
trong các năm quạ. Ngày 19/10/05, công an CSViệt Nam ập vào
căn nhà số 603 Nguyễn Kiệm Saig̣n, bắt giam cả ba người: Trương Quốc
Huy, Trương Quốc Tuấn và Lisa Phạm. Ngày 7/7/06, sau 9 tháng
bị giam cầm, cả ba nạn nhân trong hiện vụ được CSViệt Nam trả tự do
với lời giải thích rất lơ mơ của công an: “Viện kiểm sát nhân dân
tối cao quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam”.
Bây giờ chúng ta hăy sử dụng ba yếu-tố-tội-phạm của tội ác khủng bố
(đă tŕnh bày ở phần I) để phân tích và đánh giá hồ sơ “chính quyền
nhân dân khủng bố nhân dân”.
1. Yếu tố thứ nhất: sử dụng bạo lực bất hợp pháp.
Bắt và chối là không bắt: ngày 8/8/06 đài RFA (Á Châu Tự Do,
vietweb@rfạ org) viết tin:
“Vụ ba người (Trương Q Huy, Trương Q Tuấn, Lisa Phạm) bị bắt giam
hồi tháng 10 vừa qua từng gây không ít tranh căi trong dư luận v́
không những cơ quan an ninh địa phương nói không hề hay biết về việc
này mà ngay cả nhà chức trách Việt Nam cũng không xác nhận việc bắt
giữ họ. Ngoài ra Hà Nội cũng không đáp lời kêu gọi của Tổ Chức Kư
Giả Không Biên Giới yêu cầu giải thích lư do vụ bắt giữ và trả tự do
cho những người liên hệ. Kể từ sau đó không có tin tức ǵ về những
người này, cũng như không ai biết họ bị giam ở đâụ” Mặt khác, trả
lời một câu phỏng vấn của Trà My, Lisa Phạm khẳng định “Tôi có gửi
hai lá đơn cho ṭa lănh sự Mỹ mà không biết họ có chuyển dùm không?
Nhưng khi tôi ra trại đến ṭa Lănh Sự Mỹ hỏi thăm th́ họ nói là
không nhận được ǵ cả...”
Trả lời câu hỏi “Tại sao anh/chị bị CSViệt Nam bắt giam?” các nạn
nhân cho phóng viên Trà My biết:
_ Trương Q Huy: “Họ (CSViệt Nam) nói tôi tham gia lật đổ chính
quyền nhân dân”.
_ Trương Q tuấn: “Họ nói tôi giúp thế lực thù địch hải ngoại chống
phá cách mạng, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân căn cứ
theo điều 79”.
_ Lisa Phạm: “Họ quy kết tôi các tội nào là CIA t́nh báo, gián điệp
cho Mỹ, cung cấp tiền cho người Việt Nam qua mạng nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân.”
Nh́n chung cả ba nạn nhân đều bị CSViệt Nam buộc tội “hoạt động lật
đổ chính quyền nhân dân căn cứ vào điều 79 h́nh luật của CSViệt
Nam.” Tội này gồm bao nhiêu yếu-tố-tội-phạm? Những bằng chứng nào đă
dùng để minh chứng là cả ba nạn nhân đă thực sự vi phạm các yếu- tố-
tội-phạm vừa kể? Không trả lời được hai câu hỏi kia, ngày
7/7/06, Viện Kiểm Sát Nhân Dân của CSViệt Nam đành phải kư quyết
định “hủy bỏ biện pháp tạm giam”.
Như vậy rơ ràng là CSViệt Nam đă xử dụng bạo lực phi pháp bằng cách
bắt cóc (bắt nhưng chối là không bắt) công dân với các tội danh lơ
mơ, vô nghĩạ. Nói rơ hơn, CSViệt Nam đă thực hiện trọn vẹn
yếu-tố-tội-phạm thứ nhất của tội ác khủng bố.
2. Yếu tố thứ hai: Cưỡng bách nạn nhân phải tuân phục mệnh
lệnh của can phạm.
CSViệt Nam bắt cóc các nạn nhân và viện dẫn điều 79 h́nh luật CS chỉ
để khủng bố tinh thần nạn nhân nhằm buộc nạn nhân không được làm một
số công việc: Không được đ̣i hỏi dân chủ đa nguyên. Không được tố
cáo tham nhũng. Không được phổ biến những tin tức về tệ nạn đàn áp
tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do chính trị...
Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, CSViệt Nam đă vi phạm yếu-tố-tội-phạm thứ
hai của tội ác khủng bố.
3. Yếu tố thứ ba: Khủng bố nhằm đoạt thủ một quyền lợị
Quyền lợi mà CSViệt Nam nhằm đoạt thủ là quyền kéo dài vô thời hạn
ngôi vị thống trị xă hội, quyền sống đế vương trên đời sống lầm than
của muôn dân. Muốn đoạt thủ các quyền lợi kia, CSViệt Nam không c̣n
cách nào khác hơn là khủng bố nhân dân để mạnh mẽ triệt tiêu tiếng
nói của dân chủ đa nguyên, của công bằng và lẽ phảị.
Công việc phân tích ba yếu-tố-tội-phạm của tội ác khủng bố đă minh
chứng một cách khoa học và rắn chắc rằng: CSViệt Nam đă thực hiện
trọn vẹn cả ba yếu-tố tội-phạm. CSViệt Nam đă thực sự phạm tội ác
khủng bố người dân. “Chính quyền nhân dân” đă khủng bố nhân dân.
IIỊ. Lư do thầm kín đằng sau
vụ án khủng bố.
Ngay sau 30/4/1975, với lá bùa “chủ nghĩa Marx Lenine vô địch muôn
năm” với sự hỗ trợ của “phe xă hội chủ nghĩa”, CSViệt Nam đă cai trị
Việt Nam bằng chính sách khủng bố công khaị. Bắt giam tất cả những
thành phần bị CSViệt Nam nghi là “phản động”, đánh “tư sản mại bản”,
đánh “văn nghệ sĩ vàng”, tống giam phi pháp và vô thời hạn những
người bị CS gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”, tùy nghi cưỡng đoạt tài
sản của nhân dân qua những lần đổi tiền v.v... Các sự kiện vừa nêu
được gọi là khủng bố công khai, khủng bố trắng.
Ngày nay do t́nh h́nh thế giới thay đổi, CSViệt Nam bắt buộc phải
chạy theo kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là kinh tế
của ḷng tin, của “tín dụng”. Kinh tế thị trường và khủng bố chính
trị như nước với lửạ V́ vậy bước vào kinh tế thị trường của thế giới,
CSVietnam phải đối mặt với hai vấn đề:
_ Một là làm thế nào để quốc tế có thể chấp nhận CSViệt Nam như một
nhà cầm quyền tự do dân chủ.
_ Hai là làm thế nào để nhân dân trong nước không có khả năng tố
cáo tự do dân chủ của CS là loại hàng giả?
Muốn giải quyết hai vấn đề trên, CSViệt Nam quyết định vừa tô màu
chế độ dân chủ giả hiệu, vừa biến “khủng bố trắng” của những năm sau
1975 thở thành khủng bố đen của những năm 2000. Khủng bố đen
là khủng bố trong bóng tối, khủng bố bí mật, khủng bố dấu mặt. Vụ án
“chính quyền nhân dân khủng bố nhân dân” là một trường hợp điển h́nh
của chính sách khủng bố đen do CSViệt Nam chủ trương trong giai đoạn
hiện tạị.
Mặc dầu đă chuyển đổi từ khủng bố trắng qua khủng bố đen, bản chất
dân chủ giả hiệu của CSViệt Nam vẫn bị quốc tế nhận diện và chỉ
trích. Nhằm biên minh cho hành động giả mạo dân chủ của ḿnh, nhà
cầm quyền Hà Nội vẫn thường nêu luận cứ rằng dân chủ Á châu khác với
dân chủ Âu Mỹ và rằng mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng cho nên
Hà Nội có quyền xây dựng tại Việt Nam một chế độ dân chủ đặc biệt.
Nêu ra các luận cứ mơ hồ và phản lư luận kia, CSViệt Nam có chủ ư
đẩy hai chữ “dân chủ” rơi vào t́nh trạng khó hiểu đến tối tăm. Trong
tối tăm và khó hiểu đó, Hà Nội lặng lẽ tiếp tục chính sách cai tri
độc tài và tham ô.
Công việc phân tích vụ án “chính quyền nhân dân khủng bố nhân dân”
đă dẫn đến nhận định nghiêm túc rằng: Dân chủ là dân chủ, không có
vấn đề dân chủ Á châu khác với dân chủ Âu Mỹ. Dân chủ chỉ có một
nội dung thống nhất. Nội dung đó là: dưới chế độ dân chủ, quan hệ
giũa người dân và nhà cầm quyền là quan hệ đồng thuận và hợp tác.
Quan hệ giữa Nhà cầm quyền Hà Nội và người dân Việt Nam hiện nay là
quan hệ giũa phạm nhân tội khủng bố và nạn nhân của hành động khủng
bố. Chừng nào CSViệt Nam không c̣n khả năng khủng bố, khủng bố trắng
cũng như khủng bố đen, chừng đó Việt Nam thực sự có tự do dân chủ.
Đó là nội dung cốt lơi của bài viết “Chính Quyền Nhân Dân Khủng Bố
Nhân Dân” vậỵ/.
Đỗ Thái Nhiên
Trở về đầu Trang
|