|
|
Ngày 11 tháng 3 năm
1945, Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống Nhất, sau 61 năm bị thực dân
Pháp thống trị (1884-1945)

Trong suốt thời gian dài hơn 60 năm
qua, nhóm người Cộng sản Việt Nam theo chủ nghiă Tam Vô chuyên chính
toàn trị vong nô bán nước hại dân, đă cố t́nh dùng những phương tiện
tuyên truyền xảo quyệt gian dối lừa bịp nhân loại, bóp méo sự thật
về hoàn cảnh lịch sử mà toàn dân tộc Việt Nam đă sát cánh bên nhau
giành lại được Độc lập cho đất nước sau 61 năm bị Thực dân Pháp
thống trị, khi Thế giới Đại Chiến II chấm dứt.
Người viết là một nhân chứng, sống trong ḷng dân tộc Việt Nam trên
đất nước Việt nam suốt từ cuối Thập niên 1920 cho đến giữa Thập niên
1990, thấy có bổn phận phải ghi lại sự thật những ǵ đă xẩy ra trên
đất nước Việt Nam, để giúp cho các thế hệ Trẻ sau này biết được sự
thật về giai đoạn lịch sử này của Dân tộc Việt Nam, để thấy được
những ǵ Cộng sản Việt Nam tiếm nhận khoe khoang phổ biến cho đến
nay đều hoàn toàn không đúng với sự thật hiển nhiên đă xẩy ra.
1.- T̀NH H̀NH QUỐC TẾ KHI THẾ GIỚI ĐẠI
CHIẾN II CHẤM DỨT
Sau khi Hoa Kỳ thả 2 quả bom nguyên tử
xuống đất Nhật, san bằng 2 thành phố Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm
1945, và Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, Hoàng Đế Nhật Bản phải
tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Nhờ vậy,
Thế giới Đại chiến II, do phe Trục Đức-Ư-Nhật chủ xướng từ năm 1939
được coi là chấm dứt hoàn toàn trên cả 5 Châu : Âu, Phi, Á, Úc, và
Mỹ.
Hết Thế giới Đại chiến II, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ Cao trào các Tiểu
nhược quốc Thuộc địa trên toàn Thế giới, đang bị các nước Thực dân
Đế quốc da trắng đô hộ cai trị áp bức, vùng lên giành lại Độc lập Tự
do cho Dân tộc ḿnh, để xây dựng Thể chế Chính trị theo mô thức Dân
chủ Tự do Tư bản.
Khối Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga lănh đạo (phe đối
nghịch với khối Thế giới Tự do Tư bản) cũng nhân cơ hội này,
dùng các tay sai người bản xứ lôi cuốn các nhóm công nông vô sản
dùng bạo lực hăm dọa song hành với phương thức truyên truyền xảo
quyệt, buộc quảng đại quần chúng dân lành phải đi theo dưới mỹ từ
làm Cách mạng giải phóng quê hương, để bành trướng thế lực nhằm thực
hiện sách lược Xích hoá toàn Thế giới theo chủ nghĩa Cộng sản Tam Vô
chuyên chính. Tại Việt Nam th́ có tay sai bán nước Hồ Chí Minh.
2.- HOÀN CẢNH DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO NĂM 1945
A.- Trong nước, vào ngày Chủ Nhật 11
tháng 3 năm 1945 (hai ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm
toàn quyền cai trị Đông Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp
tái lập Quốc Gia Việt Nam Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung
Nam) trong Khối Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim
đă được Vua Bảo Đại cử làm Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành
Quốc gia, và ban bố chương tŕnh hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm
1945, trong đó quy định Quốc Kỳ là cờ
Quẻ Ly,
nền
vàng giữa có biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm dọc theo bề dài nền cờ
(2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch đứt quăng chính
giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự). Quốc Ca là bài
“Việt Nam minh châu trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân.
Việt Nam minh châu trời Đông!
Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái B́nh Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai c̣n vương cỏ hoa,
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam
Khoảng hơn 5 tháng sau, vào
ngày 17 tháng 8 năm 1945 (hai ngày sau khi Vua Nhật tuyên
bố đầu hàng quân Đồng Minh do Hoa Kỳ lănh đạo), các đoàn thể
Công chức và quần chúng Việt Nam họp mít tinh trước Nhà Hát Lớn tại
Hà nội, để ủng hộ ông Trần Trọng Kim tiếp tục làm Thủ Tướng. Nhưng,
đă bị nhóm Việt Minh của Hồ Chí Minh trà trộn vào lèo lái biến thành
cuộc xuống đường đ̣i Chính phủ Trần trọng Kim từ chức. Đồng thời,
nhóm Hồ Chí Minh và Việt Minh cũng đưa người vào Huế làm áp lực buộc
Vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường quyền cho nhóm Việt Minh thành
lập các Ủy ban Nhân dân Cách mạng thay thế các tổ chức hành chánh
của Chính phủ Trần trọng Kim.
B.- Nơi Hải ngoại, những nhà yêu nước
thuộc các Phe nhóm và Đảng phái Cách mạng Nhân bản Việt Nam chống
Thực dân Pháp, đang lưu vong bên Trung Hoa Lục địa (trong đó có
cả nhóm Việt Minh và Hồ Chí Minh*), được Chính quyền Trung hoa
Dân quốc của Tưởng Giới Thạch bảo trợ giúp hoàn cảnh cho ngồi lại
với nhau, lập ra một tổ chức đoàn kết hợp nhất với danh hiệu VIỆT
NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI (VNCMĐMH) do Cụ Nguyễn Hải Thần làm Chủ
Tịch.
[Ghi chú *: Hồ Chí Minh bị chính quyền tỉnh Quảng Tây
bắt giam vào tháng 10 năm 1942 trong ngục tối ở Tĩnh Tây, v́ hoạt
động gián điệp cho Cộng sản Nga trên đất Trung Hoa Dân Quốc, đến
tháng 5-1943 bị giải sang Liễu Châu. Cụ Nguyễn Hải Thần và các nhà
Cách mạng Nhân bản Việt Nam chống Pháp đang lưu vong bên Trung Hoa,
thấy Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn ta cũng đang hoạt động đấu
tranh chống Thực dân Pháp, nên đă v́ t́nh nghiă Đồng bào không kỳ
thị khuynh hướng chính trị Cộng sản mà Hồ Chí Minh đang theo, đồng
ḷng vận động bảo lănh xin cho Hồ Chí Minh được tha ra khỏi ngục tù
của Trung Hoa Dân Quốc, để cùng nhau hợp tác tiếp tục công cuộc
chống Pháp và Nhật giành lại quyền Tự do Độc lập cho Dân tộc và quê
hương Việt Nam. Hồ Chí Minh được tha vào ngày 10 tháng 9 năm 1943.
Vào ngày 28-8-1945,
trong khi quân đội Mỹ đổ bộ lên chiếm đóng đất Nhật Bản thua trận
đầu hàng, th́ 5 Đoàn quân Trung Hoa Dân Quốc của ông Tưởng Giới
Thạch đại diện Liên Hiệp Quốc do Tướng Lư Hán chỉ huy, cũng tiến vào
Việt Nam bằng 5 ngả : Lạng Sơn, Lào kay, Lai Châu, Hà Giang, Móng
Cáy, để thực hiện việc giải giới quân Phiệt Nhật tại phiá Bắc Vĩ
Tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương. Đi theo các Đạo quân Trung Hoa này,
có các toán thuộc Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội về theo, để phối
hợp cùng các Đoàn thể Việt Nam đấu tranh ở trong nước, thành lập
Chính phủ Liên Hiệp gồm thành phần đại diện của mọi Phe nhóm Đảng
phái, cũng như vận động quần chúng tham gia ứng cử và bầu cử đại
diện vào Quốc Hội Lập Hiến cho Việt Nam. Mọi chuyện tiến hành êm đẹp,
Hồ Chí Minh (thuộc phe Việt Minh Cộng sản chiếm đa số trong Quốc
Hội) được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp, Cụ Nguyễn Hải
Thần làm Phó Chủ tịch, và cựu Hoàng Bảo Đại (ông Vua thoái vị)
được mời làm Cố vấn cho Hồ Chí Minh Chủ Tịch Chính phủ Liên Hiệp.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí minh, đại
diện Chính phủ Liên Hiệp đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trước đông đảo Đồng bào Việt Nam tham dự cuộc
mít tinh tại vườn hoa Ba Đ́nh* ở Hà Nội. [*Vườn
hoa Ba đ́nh thời Pháp thuộc gọi là vườn hoa Con Cóc, một bùng binh (rond
point) ở giữa có những tượng con cóc bằng đồng đúc, ngồi quanh một
chiếc hồ phun các ṿi nước từ miệng ra, được xây dựng trước Phủ Toàn
quyền Pháp cũ, đă được ông Trần Huy Lai Đốc lư Hà Nội thời Chính phủ
Trần Trọng Kim đổi tên là Quảng trường Ba Đ́nh từ ngày 3 tháng 8 năm
1945.]
Ngày 28 tháng 1 năm 1946, quân đội Vương
Quốc Anh (England) đại diện tổ chức Liên Hiệp Quốc, đổ bộ
xuống Saigon để phụ trách việc giải giới quân Phiệt Nhật tại các
vùng ở miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương. Quân Anh đă dung
túng cho nhóm 200 quân Pháp tháp tùng để tái chiếm miền Nam Việt
Nam, và ngày 4 tháng 2 năm 1946 Pháp đă công khai tuyên bố thành
lập Chính quyền Hành chánh cai trị dưới danh xưng Nam Kỳ Tự Trị.
[Trong thời Pháp thuộc từ trước năm 1945,
Nam phần Việt Nam là một nhượng địa cho Pháp gọi là Cochinchine có
hệ thống Hành chánh cai trị riêng biệt không lệ thuộc Hoàng triều
An-Nam, y như trường hợp nhượng địa Hồng Kông của Trung Hoa cho
Vương Quốc Anh vậy.]
Lợi dụng cơ hội này,
Hồ Chí Minh Chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp đă gian manh tổ chức
TUẦN LỄ VÀNG, kêu gọi nhân dân Việt Nam đóng góp vàng để mua
súng chống Pháp tái xâm lăng Việt Nam. Nhưng thực tế, Hồ Chí Minh đă
dùng số vàng thu được để đút lót (hối lộ) mua chuộc Tướng Lư
Hán và các Tướng, Tá trong Ban Tham mưu quân Tầu tại Hà Nội cũng như
tại các thành phố có quân Tầu đang trấn đóng, làm ngơ cho phe Việt
Minh và Hồ Chí Minh mở các cuộc hành quân Cảnh sát tiêu diệt thành
viên các Đảng phái Quốc gia không thuận theo Cộng sản, để chiếm độc
quyền cai trị dân tộc Việt theo Chế độ Cộng sản Quốc tế do Liên Xô
Viết Nga lănh đạo.
Trong cùng lúc đó, Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh lén lút tiếp xúc
rồi kư Hiệp ước Sơ bộ với Saintenay (đại diện Pháp) vào lúc 4 giờ
chiều ngày 6 tháng 3 năm 1946 tại căn nhà số 38 đường Lư Thái Tổ Hà
Nội. Theo bản Hiệp ước, th́ Chính phủ do
Hồ Chí Minh lănh đạo thoả thuận cho Pháp được tự do đổ quân chiếm
đóng nhiều Tỉnh trọng yếu tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam (kể
cả Thủ đô Hà Nội). Các đảng phái chính trị không Cộng sản
trong Chính phủ Liên Hiệp tổ chức biểu t́nh chống đối, đă bị Hồ Chí
Minh và phe Việt Minh gian manh xảo quyệt phao tin vu khống là các
Đảng phái Quốc gia cấu kết với Pháp phản bội Tổ quốc, để công
khai dùng Binh lực và Công An tổ chức các cuộc hành quân thẳng tay
tiêu diệt các thành phần đối lập với Cộng sản, ngay tại Hà Nội và
tại các Tỉnh khác mà quảng đại quần chúng sợ bị liên lụy không dám
phản kháng.
Đêm 19 tháng 12 năm 1946,
chiến tranh giữa quân Pháp và quân Việt Minh bùng nổ trên toàn
lănh thổ Việt Nam, v́ tranh chấp thương thảo chia chác quyền cai
trị đất nước giữa Việt Minh và Pháp không êm xuôi. Quân của Hồ Chí
Minh thua phải bỏ Thủ đô Hà Nội và nhiểu Thành phố trọng yếu khác để
rút vào rừng vùng Việt Bắc (gọi là Bưng). Trước khi rút vào
bưng, Hồ Chí Minh ra lệnh bắt buộc nhân dân Việt Nam cả thành thị
lẫn thôn quê, phải thực hiện chính sách “Tiêu thổ kháng chiến”
(tức là phá b́nh địa tất cả các nhà gạch to lớn đồ sộ của tư nhân,
cũng như cơ sở công cộng, Nhà Thờ, Đ́nh, Chùa, đào đường đắp mô, phá
cầu cống…) gọi là chiến lược chống Pháp tái xâm lăng. Nhưng mục
đích thực sự sâu xa của việc làm này là, để thực hiện bước đầu tiên
bần cùng vô sản hoá toàn dân, chuẩn bị xây dựng chế độ vô sản chuyên
chính độc tài tàn bạo theo mô h́nh của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô
Viết Nga chỉ đạo.
Thời gian tiếp theo, dân chúng phải sống dưới cảnh một cổ 2 tṛng, y
như thời gian từ 1940 đến 1945 bị Pháp và Nhật song hành cai trị.
Công việc làm ăn mưu sinh hàng ngày của dân chúng rất khổ cực, và
luôn luôn lo lắng cho phần an ninh cá nhân và gia đ́nh, v́ hệ thống
Công an của cả 2 bên Pháp và Việt Minh hoạt động khủng bố ngày đêm
rất là tàn bạo.
Măi đến giữa năm 1947,
những thành phần Nhân Sĩ Quốc Gia sống sót sau chiến dịch
Cộng sản tiêu diệt hồi đầu năm 1946, ngồi lại với nhau t́m
giải pháp giành lại Độc Lập cho đất nước bằng đường lối hoà b́nh,
và đă quyết định mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông,
đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp về việc tái thiết một Quốc
Gia Việt Nam Độc lập Thống nhất trong Khối Liên Hiệp Pháp tại Đông
Dương. Năm 1946 sau khi kư Hiệp ước Sơ bộ tại Hà Nội với Saintenay,
Hồ Chí Minh cũng đă sang Pháp thương thuyết nhưng đă bị thất bại ê
chề.
Ngày 19 tháng 8 năm 1947 tại Hồng Kông, Cựu Hoàng Bảo Đại chấp nhận
lời kêu gọi đứng ra tiếp xúc với Chính phủ Pháp, và ngày 5 tháng
6 năm 1948, Hiệp định Hạ Long được kư kết giữa Thủ Tướng Chính phủ
Trung Ương Nguyễn văn Xuân đại diện Việt Nam Thống Nhất cả 3 miền
Bắc Trung Nam, và ông Bollaert đại diện Chính phủ Pháp (trước sự
chứng kiến của Cựu Hoàng Bảo Đại) trên chiến hạm Duguay Trouin của
Hải quân Pháp đậu tại Vịnh Hạ Long, Bắc phần Việt Nam. Hiệp định
công nhận Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống nhất cả 3 miền Bắc Trung
Nam trong Khối Liên Hiệp Pháp, có Chính phủ độc lập và Quân đội
riêng, cũng như có toàn quyền thiết lập bang giao với mọi nước trên
toàn Thế giới ngoài nước Pháp, về Kinh tế và Khoa học Kỹ thuật th́
ưu tiên giao dịch với Pháp và các nước thuộc Khối Liên Hiệp Pháp.
(Khối Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương lúc
đó gồm 3 nước Việt nam, Lào, Cao Miên, và tại Phi Châu gồm các nước
Algéria, Tunisia, Maroc, và Sénégal.)

Quốc Kỳ của Quốc Gia Việt Nam, được
định lại là nền vàng với biểu trưng quẻ Càn mầu đỏ (3
vạch dài bằng nhau) nằm dọc chính giữa suốt bề dài của
cờ, trong dân gian thường gọi nôm na là Cờ Vàng Ba Xọc Đỏ.
Quốc Ca* là bài “Tiếng gọi Công dân”,
nguyên là bài “Sinh viên hành khúc” nhạc của Lưu Hữu Phước,
lời do một ủy ban sinh viên Đại học Hà Nội đặt gồm 3 Đoạn và 1 Điệp
khúc. Bài “Sinh viên hành khúc” được các sinh viên tŕnh bầy
hợp ca lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 3 năm 1942, trong buổi tŕnh
diễn văn nghệ do sinh viên tổ chức tại Viện Đại Học Hà Nội, để lấy
tiền giúp các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện mà sinh viên Y Khoa
Đại học Hà Nội đến thực tập. (*ghi chú:
Quốc Ca chỉ dùng có Đoạn I của bài “Sinh viên hành khúc” mà thôi.
Tên bài hát được đổi thành “Tiếng gọi Công dân”, và các từ “Sinh
viên” trong bài ca đổi thành từ “Công dân”.
Đoạn I.
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!
Đồng ḷng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
V́ non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên.
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn trông gai vững ḷng chi sá.
Đường mới kíp phóng mắt nh́n xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Điệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết ḷng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Đoạn II.
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vẫn c̣n chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
B́nh bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát, Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Ṇi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền.
(trở lại Điệp khúc)…
Đoạn III
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng!
Hành tŕnh c̣n xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem ḷng son cho giống ḍng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Đời mới kiến thiết đáp ḷng những ai,
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
(trở lại Điệp khúc)…
Vào tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, một phong trào
Thanh niên Tiền phong được tổ chức tại miền Nam Việt Nam, nhóm này
lấy bài “Sinh viên hành khúc” dùng làm Đoàn Ca, nhưng đổi tên
bài hát là “Tiếng gọi Thanh niên” và các từ “Sinh viên”
được thay bằng từ “Thanh niên”.
Sau khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị ông Ngô Đ́nh Diệm tổ chức trưng cầu
dân ư để truất phế vào tháng 10 năm 1954, miền Nam Việt Nam thành
lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà, Quốc hội Lập Hiến năm 1956 đă quyết định
tiếp tục dùng bài “Tiếng gọi Công dân” làm Quốc Ca (nhưng
lời ca được đổi lại như ghi dưới đây), và Quốc Kỳ cũng vẫn là Cờ
Quẻ Càn của thời Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lănh đạo của Quốc
trưởng Bảo Đại, và hiện nay tập thể các Cộng Đồng Người Việt lưu
vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn Thế giới vẫn tôn trọng là Quốc Ca và
Quốc Kỳ chính thống gốc Việt của ḿnh:
Này Công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng,
Đồng ḷng cùng đi hy sinh tiếc ǵ thân sống.
V́ tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Ṇi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
(Điệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cơi bở!
Thoát cơn tàn phá vẻ vang đời sống,
Xứng danh ngàn năm ḍng giống Lạc Hồng.
Kể từ sau khi Đại diện Việt Nam và Đại diện Pháp kư Hiệp Ước Hạ Long
ngày 5 tháng 6 năm 1948 trở đi, Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo
Đại đứng đầu, được cả trăm nước trên toàn Thế giới lần lượt tuyên bố
công nhận, và trao đổi cơ sở Ngoại Giao với hàng Đại Sứ.
Trong khi đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chí Minh và
phe Việt Minh cướp đoạt ôm giữ từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 cho đến
lúc đó tháng 6 năm 1948, vẫn không được một nước nào trên Thế giới
nh́n nhận, kể cả Liên Xô Nga và các nước trong khối Cộng sản theo
Nga.
Quốc Trưởng Bảo Đại đă chính thức công khai gửi lời mời Hồ Chí Minh
và nhóm Việt Minh hợp tác chấm dứt chiến tranh, để cùng toàn dân xây
dựng kiến thiết đất nước mau hùng mạnh thịnh cường. Nhưng v́ Hồ Chí
Minh là đảng viên trung kiên của Quốc tế Cộng sản luôn luôn phải
tuân hành lệnh của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga chỉ đạo, nên
đă từ chối và tiếp tục được Nga Xô và Trung Cộng yểm trợ đẩy mạnh
chiến tranh du kích khủng bố dân lành không cho làm ăn phát triển
kinh tế, đốt làng xóm, phá hoại cầu đường giao thông, và các cơ sở
công cộng tiện ích xă hội do Chính phủ Quốc Gia Việt Nam xây dựng để
phục vụ quảng đại quần chúng tại các thành thị và thôn quê.
3.- ĐỂ KẾT LUẬN
Qua các sự kiện lược kể trên đây, chúng ta thấy rơ ràng nhóm Hồ Chí
Minh và Việt Cộng không hề có công đấu tranh giành lại Độc lập Tự
do, hay làm cách mạng để đem lại hạnh phúc ấm no cho Dân tộc và phồn
vinh cho quê hương Việt Nam. Tất cả những ǵ Cộng sản khoe khoang vơ
vào bấy lâu nay, đều là xảo trá láo khoét, trâng tráo vô liêm sỉ của
nhóm mafia vong nô tay sai của Quốc tế Cộng sản nay đă tan ră. Sự
thật bao giờ cũng vẫn là sự thật, cây kim dù bọc kỹ lưỡng đến đâu,
lâu ngày cũng sẽ bị rỉ sét làm ḷi ra giữa ánh sáng mặt trời.
Tất cả những điều tŕnh bầy trên đây đều là những sự kiện thật đă
xẩy ra, và là những dấu ấn được khắc ghi sâu đậm trong bộ năo của
người viết, theo thời gian chung sống hoà đồng cùng dân tộc đồng bào
của ḿnh ngay trên đất nước Việt Nam, chớ không hư cấu tưởng tượng
cường điệu để tuyên truyền.
Quư Vị độc giả có toàn quyền tự do phân định giả chơn, và tự quyết
định nên đứng vào hàng ngũ những người đang tranh đấu hỗ trợ quảng
đại quần chúng dân tộc Việt Nam ở trong nước, đẩy mạnh cuộc đấu
tranh loại trừ Cộng sản VN giành lại Tự do Dân chủ Nhân quyền đă bị
bọn bạo quyền này tước đoạt từ hơn nửa Thế kỷ nay, hay v́ lợi ích
riêng tư vị kỷ cá nhân cố t́nh giả ngộ ngu ngơ tiếp tục tin theo lời
tuyên truyền xảo trá gian ngoan mời gọi nịnh vuốt ngọt ngào của bè
lũ phản dân hại nước của bè lũ Việt Cộng gian ngoan vô nhân đạo này,
mà hoà hợp hoà giải quên đi quá khứ tàn bạo khát máu của chúng đối
với dân tộc suốt hơn 60 năm qua, và làm ăn buôn bán cộng tác tiếp
tay cho chúng có thêm thời cơ kéo dài cường quyền tiếp tục bán nước
hại dân lâu thêm nữa.
Little Saigon, Orange County, California
NGUYỄN-HUY HÙNG.
cựu đảng viên Phục Quốc hoạt
động tại Thị xă Lạng Sơn trong thập niên 1940,
cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam
Cộng Hoà,
cựu Tù nhân Chính trị, 13 năm
khổ sai trong các trại tập trung của Cộng sản VN.
Trở về đầu trang
|